Giao diện
44.1. Các hạt cơ bản: Lược sử phát triển
Đến năm 1932, bức tranh về cấu trúc vật chất dường như đạt được sự cô đọng lý tưởng. Các nhà vật lý khi đó cho rằng mọi đối tượng trong vũ trụ đều được xây dựng từ bốn hạt cơ bản: Electron, proton, neutron và . Tuy nhiên, sự giản dị đó nhanh chóng nhường chỗ cho một thế giới hạ nguyên tử phong phú và phức tạp hơn rất nhiều khi các hiện tượng thực nghiệm mới liên tiếp được khám phá.
Từ nguyên tử đến electron và proton
Khoảng năm 400 trước Công nguyên, Democritus và Leucippus đề xuất vật chất gồm những hạt không thể chia nhỏ, được gọi là nguyên tử. Đến khoảng năm 1804, John Dalton dùng ý tưởng nguyên tử của từng nguyên tố để giải thích nhiều hiện tượng hóa học. Khi ấy, nguyên tử vẫn được xem là đơn vị không thể phân chia.
Cuối thế kỷ XIX, các phổ đặc trưng của nguyên tố cho thấy nguyên tử có cấu trúc bên trong. Năm 1897, J. J. Thomson khám phá electron mang điện âm. Các thí nghiệm Rutherford năm 1910–1911 xác định điện tích dương tập trung trong một hạt nhân nhỏ và đặc.
Năm 1919, Rutherford nhận thấy bắn alpha vào nitơ có thể tạo hydro. Ông suy luận hạt nhân hydro là thành phần của hạt nhân nặng hơn và đặt tên nó là proton. Sự phát triển cơ học lượng tử trong thập niên tiếp theo cung cấp công cụ giải thích cấu trúc nguyên tử. Trong mô tả cấu trúc sâu hơn, proton là một hệ có liên kết, không phải một hạt cơ bản không cấu tạo.
Photon và sự lượng tử hóa bức xạ
Năm 1905, Einstein giải thích hiệu ứng quang điện bằng các lượng tử bức xạ có năng lượng
Neutron và phép ghi nhận hạt trung hòa
Năm 1930, Walther Bothe và Herbert Becker quan sát một bức xạ xuyên sâu khi bắn alpha vào beryllium, boron hoặc lithium. Năm 1932, James Chadwick xác định các hạt phát ra trung hòa điện và có khối lượng gần khối lượng proton. Ông gọi chúng là neutron.
Một phản ứng với bia beryllium là:
Hạt mang điện thường được ghi nhận qua sự ion hóa vật chất. Neutron không mang điện nên khó ghi nhận trực tiếp bằng cơ chế này. Tuy nhiên, nó có thể tán xạ với hạt nhân, chậm lại và tham gia phản ứng tạo hạt mang điện. Chẳng hạn:
Hạt alpha sinh ra dễ ghi nhận nhờ điện tích của nó. Các phép đo còn xác định neutron và proton có spin một phần hai. Sự có mặt neutron giải thích vì sao các hạt nhân có tỉ số điện tích trên khối lượng khác nhau. Trừ hydro-1, những nuclide thông thường đang xét chứa cả proton và neutron.
Positron và bài toán trạng thái năng lượng âm
Năm 1928, nhà vật lý người Anh Paul Dirac xây dựng phương trình sóng tương đối tính cho electron. Phương trình Dirac kết hợp thành công các nguyên lý của cơ học lượng tử với , nhưng đồng thời dẫn đến một hệ quả kỳ lạ: Năng lượng
Trong biểu thức trên, các trạng thái năng lượng dương trải dài liên tục từ
Để giải quyết bài toán này, Dirac đề xuất giả thuyết rằng trong chân không thực sự, toàn bộ các trạng thái năng lượng âm đều đã bị lấp đầy bởi một "biển" electron vô tận. Theo , không electron nào có thể chuyển xuống một trạng thái đã có electron chiếm giữ.

Chú thích:
- Vùng liên tục các trạng thái năng lượng dương (Continuum of positive-energy states)
- Vùng liên tục các trạng thái năng lượng âm (Continuum of negative-energy states)
Nếu một có thiểu bằng
Năm 1949, Richard Feynman đưa ra một cách diễn giải toán học tương đương và trực quan hơn: Một positron có thể được mô tả như một electron chuyển động ngược chiều thời gian. Ngày nay, khái niệm được mở rộng cho mọi loại hạt cơ bản: Mỗi hạt đều có một phản hạt tương ứng với cùng khối lượng và thời gian sống, nhưng mang điện tích và các số lượng tử nội tại trái dấu. Đối với và một số hạt trung hòa đặc biệt, hạt trùng với chính phản hạt của nó.
Electron và positron có cùng khối lượng, độ lớn điện tích và spin. Mômen từ electron ngược hướng spin, còn mômen từ positron cùng hướng spin. Một hạt trung hòa điện không nhất thiết là của chính mình, vì còn phải xét các số lượng tử khác.
Năm 1932, Carl D. Anderson phát hiện ra vết của positron trong các tia vũ trụ khi sử dụng buồng mây đặt trong từ trường. Hạt mang điện ion hóa hơi trong buồng, các ion kích thích sự ngưng tụ thành những giọt nhỏ, tạo vết nhìn thấy được.

Chú thích:
- Vết hạt positron (Positron track)
- Tấm chì (dày 6 mm) (Lead plate (6 mm thick))
- Positron chuyển động theo quỹ đạo cong do sự hiện diện của từ trường. (The positron follows a curved path owing to the presence of a magnetic field.)
- Vết cong mạnh hơn ở phía trên tấm chì, chứng tỏ positron bay từ dưới lên và bị mất năng lượng cùng tốc độ khi xuyên qua tấm chì. (The track is more strongly curved above the lead plate, showing that the positron was traveling upward and lost energy and speed as it passed through the plate.)
Khi positron xuyên qua tấm chì dày 6 mm, nó mất động năng và giảm. Trong từ trường đều, bán kính quỹ đạo tỉ lệ với độ lớn động lượng. Vì vết ở phía trên cong hơn, hạt phải chuyển động từ dưới lên và mất năng lượng trong chì. Kết hợp hướng vận tốc với chiều từ trường trong lực Lorentz cho biết hạt mang điện dương.
Hiện tượng tạo cặp và hủy cặp
Positron không tồn tại bền vững trong vật chất thông thường. Các cặp electron–positron được tạo thành khi các hạt mang điện hoặc tia gamma mang năng lượng cao va chạm với vật chất. Hiện tượng này được gọi là sự tạo cặp

Chú thích:
- Cặp electron–positron (Electron–positron pair)
Ngân sách năng lượng nghỉ tối thiểu cần thiết để tạo một cặp electron–positron bằng tổng năng lượng nghỉ của hai hạt:
Với
Điều kiện năng lượng
Quá trình ngược lại là sự hủy cặp
Positron cũng xuất hiện trong các của các hạt nhân không bền, thường được gọi là hạt

Chú thích:
- Bình thường (Normal)
- Suy giảm nhận thức nhẹ (Mild cognitive impairment)
- Bệnh Alzheimer (Alzheimer’s disease)
Trong y học hạt nhân, kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) sử dụng cơ chế hủy cặp để phát hiện sớm các bệnh lý thoái hóa thần kinh như Alzheimer. Người bệnh được tiêm hợp chất FDG gắn đồng vị phóng xạ
Hạt truyền tương tác và nguyên lý bất định
Trong vật lý cổ điển, tương tác giữa các hạt mang điện được mô tả thông qua khái niệm điện trường và từ trường. Trong cơ học lượng tử, tương tác này được nhìn nhận dưới bức tranh phát xạ và hấp thụ các hạt lượng tử trung gian.

Chú thích:
- (a) Hai người trượt băng tác dụng lực đẩy lên nhau bằng cách ném qua lại một quả bóng. ((a) Two skaters exert repulsive forces on each other by tossing a ball back and forth.)
- (b) Hai người trượt băng tác dụng lực hút lên nhau khi một người cố giật quả bóng khỏi tay người kia. ((b) Two skaters exert attractive forces on each other when one tries to grab the ball out of the other’s hands.)
Khi hai electron đẩy nhau, một electron phát ra và electron kia hấp thụ photon đó, tương tự như hai người trượt băng đẩy nhau ra xa bằng cách ném qua lại một quả bóng nặng. Ngược lại, lực hút giữa electron và proton được hình dung như hai người trượt băng tìm cách giằng lấy quả bóng từ tay nhau. Photon đóng vai trò là hạt truyền tương tác cho lực điện từ.
Nếu tương tác giữa các hạt mang điện được truyền bởi , thì năng lượng để tạo ra photon đó đến từ đâu? Theo nguyên lý bất định, một trạng thái tồn tại trong khoảng thời gian ngắn
Hệ thức năng lượng–thời gian gợi một liên hệ giữa độ rộng năng lượng và thang thời gian đặc trưng của một quá trình. Hình ảnh lịch sử về một “ngân hàng năng lượng” muốn diễn tả rằng thang năng lượng lớn đi với thang thời gian nhỏ. Hình ảnh ấy không phải một định luật cho phép tạm thời vi phạm bảo toàn năng lượng.
Trong mô tả tương tác, là thành phần trung gian của biên độ lượng tử, khác tự do mà thiết bị ghi nhận được. Nó không cần thỏa hệ thức năng lượng– của photon thực. Năng lượng và động lượng vẫn được bảo toàn tại các đỉnh tương tác. Không được suy một thời gian sống đo được của photon ảo từ hình ảnh “vay” năng lượng.
Giả thuyết meson của Yukawa và sự khám phá pion
Lực hạt nhân liên kết các nucleon (proton và neutron) bên trong hạt nhân có bản chất như thế nào? Vào giữa những năm 1930, thế năng tương tác giữa hai nucleon được mô tả xấp xỉ bằng hàm thế năng Yukawa:
Trong đó

Chú thích:
- Thế năng Coulomb (Coulomb potential energy)
- Thế năng Yukawa (Yukawa potential energy)
Trong khi lực Coulomb có bán kính tác dụng vô hạn do thế năng giảm chậm theo quy luật
Năm 1935, nhà vật lý người Nhật Hideki Yukawa đề xuất rằng lực hạt nhân được truyền bởi một giả định gọi là . Yukawa lập luận rằng hạt truyền tương tác phải sống đủ lâu để di chuyển một quãng đường cỡ bán kính tác dụng
Thay số với
Độ bất định thiểu tương ứng từ hệ thức bất định là:
Với
Đổi sang đơn vị electron-volt, độ bất định năng lượng tương đương
Khối lượng này xấp xỉ
Năm 1936, Carl Anderson và Seth Neddermeyer phát hiện ra trong tia vũ trụ hai hạt mới mang điện tích
Đến năm 1947, một nhóm nghiên cứu do Cecil Powell dẫn đầu đã phát hiện ra họ ba hạt mới trong tia vũ trụ, gọi là
Câu tự kiểm tra 44.1
Các hạt sau có thể truyền tương tác hạt nhân giữa các nucleon. Xét bốn trường hợp:
(i)
(ii)
(iii)
(iv)
::: Details Lời giải chi tiết Đáp án: Thứ tự giảm dần là (i), (iii), (ii), (iv).
Tham số tầm tác dụng của thế Yukawa có thang
Sắp xếp các hạt theo thứ tự khối lượng tăng dần:
-
: Khối lượng -
: Khối lượng -
: Khối lượng -
: Khối lượng
Do đó, bán kính tương tác giảm dần theo đúng thứ tự (i), (iii), (ii), (iv). :::
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 44.1, trang 1483–1488.