Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Mô hình electron tự do

Chủ đề 5 / 8
  1. 1. Các loại liên kết phân tử
  2. 2. Phổ quay và dao động phân tử
  3. 3. Cấu trúc và liên kết trong chất rắn
  4. 4. Dải năng lượng trong chất rắn
  5. 5. Mô hình electron tự do
  6. 6. Bán dẫn thuần và pha tạp
  7. 7. Tiếp giáp và thiết bị bán dẫn
  8. 8. Trạng thái siêu dẫn

42.5 Mô hình electron tự do của kim loại ​

Trong các chất dẫn điện là kim loại, liên kết kim loại giải phóng các electron hóa trị khỏi từng nguyên tử riêng lẻ. Các ion dương dao động quanh các nút cố định, trong khi các electron hóa trị chuyển động hỗn loạn trong toàn bộ thể tích của khối kim loại tương tự như các phân tử của một chất khí. Mô hình đơn giản nhưng mang lại nhiều kết quả thực nghiệm chuẩn xác này được gọi là của kim loại.

Hộp thế ba chiều và các mức năng lượng gián đoạn ​

Để xây dựng mô hình định lượng, ta đưa ra hai giả thiết căn bản:

  • Thế năng tương tác tuần hoàn giữa electron với các ion dương bên trong lòng khối kim loại được xấp xỉ bằng một giá trị không đổi. Ta chọn mốc thế năng này bằng 0.
  • Ở bề mặt kim loại, lực hút tĩnh điện của khối ion kéo electron trở lại, tạo thành một rào thế năng rất cao ngăn không cho electron thoát ra ngoài.

Khối kim loại thể tích V được mô hình hóa bằng một giếng thế sâu vô hạn hình hộp lập phương có cạnh L, thể tích V=L3:

Hình 42.20: Hộp thế thế năng ba chiều lập phương cạnh L giam giữ các electron tự do bên trong khối kim loại.
Hình 42.20: Hộp thế thế năng ba chiều lập phương cạnh L giam giữ các electron tự do bên trong khối kim loại.

dừng của một electron chuyển động trong hộp thế ba chiều phải triệt tiêu tại các mặt biên. Nghiệm của phương trình Schrödinger cho bài toán này dẫn đến các mức năng lượng gián đoạn được xác định bởi bộ ba số lượng tử nguyên dương (nX,nY,nZ):

E=(nX2+nY2+nZ2)h28mL2
(42.10)

Trong đó m là khối lượng nghỉ của electron, h là hằng số Planck, và các số lượng tử chỉ nhận các giá trị nguyên dương: nX,nY,nZ=1,2,3,…. Nếu đưa vào hằng số Dirac ℏ=h/(2π), biểu thức tương đương là E=(nX2+nY2+nZ2)π2ℏ22mL2.

Mật độ trạng thái lượng tử ​

Để tính số trạng thái lượng tử dn có năng lượng nằm trong một khoảng hẹp dE, trước hết ta khảo sát một không gian ba chiều với các trục tọa độ (nX,nY,nZ):

Hình 42.21: Các giá trị cho phép của ba số lượng tử nX, nY và nZ là các số nguyên dương trong góc phần tám thứ nhất của không gian n. Tính cả hai trạng thái spin của electron, mỗi đơn vị thể tích trong không gian n chứa hai trạng thái lượng tử.
Hình 42.21: Các giá trị cho phép của ba số lượng tử nX, nY và nZ là các số nguyên dương trong góc phần tám thứ nhất của không gian n. Tính cả hai trạng thái spin của electron, mỗi đơn vị thể tích trong không gian n chứa hai trạng thái lượng tử.

Bán kính nrs của một mặt cầu có tâm tại gốc tọa độ trong không gian này là nrs=(nX2+nY2+nZ2)1/2. Mỗi điểm có tọa độ nguyên trong không gian biểu diễn một trạng thái lượng tử không gian và chiếm một đơn vị thể tích. Tổng số điểm có tọa độ nguyên bên trong một hình cầu bán kính nrs bằng thể tích của hình cầu đó, tức là 43πnrs3.

Vì các số lượng tử nX,nY,nZ đều nguyên dương, ta chỉ lấy một góc phần tám của hình cầu với thể tích bằng 18(43πnrs3)=16πnrs3. Do electron có spin (ms=±1/2), mỗi điểm không gian tương ứng với hai trạng thái lượng tử có spin ngược nhau. Vì vậy, tổng số trạng thái electron n nằm bên trong góc phần tám bán kính nrs gấp đôi 16πnrs3:

n=πnrs33
(42.11)

Năng lượng E của các trạng thái nằm trên mặt cầu bán kính nrs được biểu diễn qua phương trình (42.10) thành:

E=nrs2π2ℏ22mL2
(42.12)

Kết hợp phương trình (42.11) và (42.12) để triệt tiêu bán kính nrs, ta thu được mối liên hệ giữa năng lượng E và tổng số trạng thái n. Với thể tích khối kim loại là V=L3, tổng số trạng thái lượng tử có năng lượng nhỏ hơn hoặc bằng E là:

n=(2m)3/2VE3/23π2ℏ3
(42.13)

Để tìm số trạng thái dn trong từ E đến E+dE, ta xem n và E là các biến số liên tục rồi lấy vi phân hai vế của phương trình (42.13):

dn=(2m)3/2VE1/22π2ℏ3dE
(42.14)

g(E), định nghĩa là số trạng thái lượng tử trên một đơn vị (g(E)=dn/dE), nhận biểu thức:

g(E)=(2m)3/2V2π2ℏ3E1/2
(42.15)

Nếu biểu diễn theo hằng số Planck h, nhận dạng tương đương g(E)=82πm3/2Vh3E1/2. Do số trạng thái trong một thể tích vĩ mô lớn, các mức năng lượng nằm sát nhau đến mức ta hoàn toàn có thể xem n và E là các biến số liên tục.

Phân bố Fermi–Dirac ​

Để xác định các electron phân bố vào các trạng thái lượng tử như thế nào ở nhiệt độ T, ta không thể áp dụng phân bố cổ điển Maxwell–Boltzmann vì hai nguyên nhân căn bản:

  • : Electron là fermion (hạt có spin bán nguyên), mỗi trạng thái lượng tử chỉ được phép chứa tối đa một electron. Ở độ không tuyệt đối (T=0K), các electron không thể đồng loạt rơi về mức cơ bản đáy mà phải lấp đầy tuần tự từ mức thấp nhất cho đến một mức năng lượng trần nào đó gọi là .
  • Tính không thể phân biệt: Các electron đồng nhất hoàn toàn và không thể đánh dấu riêng lẻ để phân biệt trạng thái hoán vị.

Sự kết hợp giữa và tính chất không thể phân biệt dẫn tới phân bố thống kê lượng tử Fermi–Dirac. Hàm cho biết xác suất f(E) để một trạng thái lượng tử có năng lượng E bị chiếm giữ bởi một electron ở T:

f(E)=1e(E−EF)/kT+1
(42.16)

Trong đó k là hằng số Boltzmann, T là nhiệt độ Kelvin, và EF là mức . Ở độ không tuyệt đối (T=0K), giá trị mức Fermi được ký hiệu là EF0. Khi T=0K:

  • Với mọi trạng thái có E<EF0, số mũ (E−EF0)/kT→−∞, do đó e−∞=0 và xác suất chiếm giữ là f(E)=1.
  • Với mọi trạng thái có E>EF0, số mũ (E−EF0)/kT→+∞, do đó e+∞=∞ và xác suất chiếm giữ là f(E)=0.
Hình 42.22: Hàm phân bố xác suất chiếm giữ các trạng thái năng lượng của electron tự do ở độ không tuyệt đối, biểu diễn dưới dạng hàm bước nhảy với giá trị bằng 1 khi năng lượng nhỏ hơn mức Fermi và bằng 0 khi năng lượng lớn hơn mức Fermi.
Hình 42.22: Hàm phân bố xác suất chiếm giữ các trạng thái năng lượng của electron tự do ở độ không tuyệt đối, biểu diễn dưới dạng hàm bước nhảy với giá trị bằng 1 khi năng lượng nhỏ hơn mức Fermi và bằng 0 khi năng lượng lớn hơn mức Fermi.
Chú thích:
  • Ở độ không tuyệt đối, mọi trạng thái đều bị chiếm giữ (xác suất chiếm giữ bằng 1) ở các mức năng lượng đến EF0 ... (At absolute zero, all states are occupied (occupation probability 1) at energies up to EF0 ...)
  • ... và mọi trạng thái đều trống (xác suất chiếm giữ bằng 0) ở các mức năng lượng trên EF0. (... and all states are empty (occupation probability zero) at energies above EF0.)

Khi nhiệt độ tăng lên (T>0K), kích thích nhiệt làm một số electron ở gần sát dưới nhảy lên các trạng thái trống ngay phía trên mức Fermi. Tại đúng giá trị E=EF, số mũ bằng 0 ở mọi nhiệt độ, kéo theo:

f(EF)=1e0+1=12

Như vậy, EF chính là mức năng lượng mà tại đó xác suất chiếm giữ của electron luôn đúng bằng 1/2 ở bất kỳ nhiệt độ nào. Với các chất dẫn điện kim loại, mức Fermi thay đổi rất ít theo nhiệt độ, nên ta có thể lấy xấp xỉ EF≈EF0.

Hình 42.23: Đồ thị hàm phân bố Fermi–Dirac tại các giá trị nhiệt độ kT khác nhau khi mức Fermi EF gần như không đổi theo nhiệt độ.
Hình 42.23: Đồ thị hàm phân bố Fermi–Dirac tại các giá trị nhiệt độ kT khác nhau khi mức Fermi EF gần như không đổi theo nhiệt độ.
Chú thích:
  • Khi nhiệt độ T tăng, ngày càng có nhiều electron bị kích thích lên các trạng thái có năng lượng E > EF. (As T increases, more and more of the electrons are excited to states with energy E > EF.)

Nồng độ electron và năng lượng Fermi ở độ không tuyệt đối ​

Phương trình (42.16) cho biết xác suất để một trạng thái cụ thể có năng lượng E bị chiếm giữ ở nhiệt độ T. Để biết số lượng electron thực tế dN nằm trong dE, ta nhân xác suất này với số trạng thái dn=g(E)dE trong dải đó. Do đó, số electron dN có năng lượng trong khoảng dE là:

dN=g(E)f(E)dE=g(E)dEe(E−EF)/kT+1
(42.17)

Khi thay tường minh g(E) từ phương trình (42.15), ta thu được dạng khai triển: dN=(2m)3/2VE1/22π2ℏ3dEe(E−EF)/kT+1.

EF được quyết định bởi tổng số electron N. Ở nhiệt độ bất kỳ, của nhân xác suất chiếm phải cho đúng tổng số electron N. Sự điền đầy theo một ngưỡng sắc nét chỉ đúng ở giới hạn không độ tuyệt đối. Ở độ không tuyệt đối, mối liên hệ giữa EF0 và N rất đơn giản: Mọi trạng thái nằm dưới EF0 đều bị chiếm đầy (f(E)=1) và mọi trạng thái trên EF0 đều hoàn toàn trống (f(E)=0). Trong phương trình (42.13), ta gán n bằng tổng số electron N và E bằng năng lượng Fermi ở độ không tuyệt đối EF0:

N=(2m)3/2VEF03/23π2ℏ3
(42.18)

Biểu thức này cũng chính là kết quả của N=∫0EF0g(E)dE. Nếu tính theo hằng số Planck h, tích phân cho hệ số đầy đủ N=162πm3/2V3h3EF03/2, trong đó thừa số 162 xuất hiện từ việc nhân hệ số 2/3 của tích phân ∫0EF0E1/2dE với hệ số 82 của g(E).

Giải phương trình (42.18) theo EF0, ta tìm được:

EF0=32/3π4/3ℏ22m(NV)2/3
(42.19)

Đại lượng N/V biểu diễn số lượng electron tự do trên một đơn vị thể tích, gọi là nồng độ electron và thường được ký hiệu là n. Thay N/V bằng n, phương trình (42.19) trở thành:

EF0=32/3π4/3ℏ2n2/32m
(42.20)

Nếu viết theo hằng số h, biểu thức này tương đương với EF0=h28m(3nπ)2/3.

Lưu ý quan trọng về ký hiệu

Tuyệt đối không nhầm lẫn nồng độ electron tự do n=N/V (có đơn vị là m−3) với số lượng tử n trong phương trình sóng, và cũng không nhầm lẫn tổng số hạt electron N với tổng số trạng thái lượng tử.


Ví dụ 42.6: Xác suất chiếm giữ trong mô hình electron tự do ​

Bài toán: Đối với các electron tự do trong chất rắn ở T, hãy tìm mức năng lượng mà tại đó xác suất chiếm giữ trạng thái tương ứng nhận giá trị:

  • (a) f(E)=0,01 (tức là 1%).
  • (b) f(E)=0,99 (tức là 99%).

Phân tích và thiết lập: Bài toán yêu cầu khảo sát hàm . Công thức (42.16) cho biết xác suất f(E) theo năng lượng E. Ta biến đổi đại số để biểu diễn độ chênh lệch năng lượng E−EF theo hàm số của xác suất f(E):

1f(E)−1=e(E−EF)/kT

Lấy logarit tự nhiên hai vế, ta tìm được hiệu năng lượng giữa trạng thái và :

E−EFkT=ln⁡(1f(E)−1)

hay biểu diễn tường minh theo E: E=EF+kTln⁡[1/f(E)−1]. Ta cũng có thể quy đồng mẫu số bên trong logarit:

E−EFkT=ln⁡(1−f(E)f(E))

Các bước tính toán chi tiết:

  • Câu (a): Khi f(E)=0,01, ta có 1/f(E)−1=99, do đó:
E−EF=kTln⁡(99)≈4,595kT≈4,6kT

hay E≈EF+4,6kT. Xác suất để một trạng thái lượng tử nằm phía trên một khoảng 4,6kT bị chiếm giữ chỉ là 0,01, tức 1%.

  • Câu (b): Khi f(E)=0,99, ta có 1/f(E)−1=1/99, do đó:
E−EF=−kTln⁡(99)≈−4,595kT≈−4,6kT

hay E≈EF−4,6kT. Xác suất để một trạng thái lượng tử nằm dưới một khoảng 4,6kT bị chiếm giữ lên tới 0,99, tức 99%.

Đánh giá và nhận xét: Kết quả thể hiện tính đối xứng chuẩn mực của quanh . Với độ lệch năng lượng δ>0:

f(EF−δ)=1e−δ/kT+1=eδ/kTeδ/kT+1=1−f(EF+δ)

hay f(EF+δ)+f(EF−δ)=1.

Nếu xác suất chiếm giữ một mức năng lượng cao hơn một khoảng δ là P, thì xác suất chiếm giữ mức năng lượng thấp hơn mức Fermi đúng một khoảng δ sẽ là 1−P. Ở nhiệt độ phòng (kT≈0,025eV), khoảng chuyển tiếp 4,6kT≈0,12eV là rất hẹp so với mức Fermi vài electron-volt của kim loại, chứng minh bề mặt phân cách Fermi diễn ra rất đột ngột.

Trực giác cốt lõi: có tâm đối xứng tại điểm (EF,1/2). Mọi trạng thái nằm cách quá vài lần kT về phía dưới gần như chắc chắn bị chiếm giữ đầy, trong khi các trạng thái nằm cao hơn mức Fermi vài lần kT gần như hoàn toàn bỏ trống.


Ví dụ 42.7: Năng lượng Fermi và tốc độ electron trong đồng ​

Bài toán: Ở nhiệt độ thấp, đồng có nồng độ electron tự do n=8,45×1028m−3. Sử dụng , hãy tìm:

  • (a) của đồng ở trạng thái rắn.
  • (b) Tốc độ của một electron có động năng bằng .

Phân tích và thiết lập: Bài toán sử dụng mối liên hệ giữa và nồng độ electron tự do. Vì đồng là chất dẫn điện thể rắn, năng lượng Fermi của nó biến thiên rất ít theo nhiệt độ, nên ta có thể sử dụng biểu thức năng lượng Fermi ở độ không tuyệt đối theo phương trình (42.20). Ta áp dụng công thức phi tương đối tính EF=12mvF2 để tìm tốc độ Fermi vF tương ứng với động năng EF.

Công thức và cơ sở áp dụng:

  • :
EF0=32/3π4/3ℏ2n2/32m
  • Tốc độ Fermi:
vF=2EF0m

Các bước tính toán chi tiết:

  • Câu (a): Tính EF0 từ nồng độ hạt n=8,45×1028m−3:
3nπ=3(8,45×1028)πm−3≈8,069×1028m−3

Lấy lũy thừa 2/3, ta thu được (3nπ)2/3≈1,867×1019m−2. Thay các hằng số vật lý h=6,626×10−34J⋅s và m=9,109×10−31kg:

EF0=h28m(3nπ)2/3≈1,126×10−18J

Đổi sang đơn vị electron-volt với 1eV=1,602×10−19J:

EF0=1,126×10−18J1,602×10−19J/eV≈7,03eV
  • Câu (b): Tính tốc độ Fermi vF:
vF=2EF0m≈1,57×106m/s

Đánh giá và nhận xét:

  • Các giá trị tính được của EF0 và vF nằm hoàn toàn trong khoảng giá trị điển hình của các kim loại (lần lượt là 1,6 đến 14eV và 0,8 đến 2,2×106m/s).
  • Tốc độ Fermi vF≈1,57×106m/s nhỏ hơn rất nhiều so với tốc độ ánh sáng trong chân không c=3,00×108m/s (chỉ chiếm khoảng 0,52%c), hoàn toàn biện minh cho việc sử dụng công thức động năng cổ điển phi tương đối tính EF=12mvF2.
  • EF0≈7,03eV lớn hơn nhiều so với kT ở nhiệt độ phòng. Với k=1,381×10−23J/K và T=293K, tích kT nhận giá trị:
kT=4,05×10−21J≈0,02525eV

(giá trị làm tròn trong một số tài liệu là 0,0254eV). Tỉ số kT/EF0≈0,02525/7,03, xấp xỉ 0,0036, tức là năng lượng nhiệt chỉ chiếm chưa đầy 0,4% . Vì vậy, ta hoàn toàn có thể lấy xấp xỉ xem gần như toàn bộ các trạng thái nằm dưới EF0 bị điền đầy hoàn toàn và hầu hết các trạng thái nằm trên EF0 hoàn toàn trống rỗng (xem Hình 42.22).

  • Ta cũng có thể sử dụng phương trình (42.15) để tính g(E) khi biết trước E và V. Với mức năng lượng E=7,03eV và thể tích V=1,00cm3, tức 1,00×10−6m3, mật độ trạng thái nhận giá trị xấp xỉ 2×1022states/eV (tương đương 1,81×1022eV−1 hay 1,13×1041J−1):
g(EF0)=(2m)3/2V2π2ℏ3EF01/2≈1,81×1022eV−1

Con số khổng lồ này khẳng định lý do tại sao ta hoàn toàn có cơ sở khi xem n và E là các biến số liên tục trong quá trình thiết lập biểu thức .

Khái niệm cốt lõi: trong của kim loại phụ thuộc vào nồng độ electron (số electron tự do trên một đơn vị thể tích). Trong một kim loại điển hình ở nhiệt độ phòng T, năng lượng Fermi lớn hơn rất nhiều so với kT.


Năng lượng trung bình của electron tự do ​

Ta có thể tính năng lượng trung bình của electron tự do trong kim loại ở độ không tuyệt đối bằng cách tương tự như cách tìm EF0. Từ phương trình (42.17), số electron dN có năng lượng trong dải dE là g(E)f(E)dE. Năng lượng của các electron này là EdN=Eg(E)f(E)dE.

Ở độ không tuyệt đối, ta thay f(E)=1 cho các mức năng lượng từ E=0 đến E=EF0 và f(E)=0 cho mọi mức năng lượng khác. Do đó, năng lượng toàn phần Etot của tất cả N electron là:

Etot=∫0EF0Eg(E)dE

Cách đơn giản nhất để tính này là so sánh phương trình (42.15) với (42.19), dẫn đến hệ thức liên hệ trực tiếp:

g(E)=3NE1/22EF03/2

Thay biểu thức này vào và sử dụng công thức tính giá trị trung bình Eav=Etot/N:

Etot=35NEF0

Từ đó, động năng trung bình trên mỗi electron tự do ở độ không tuyệt đối bằng đúng ba phần năm :

Eav=EtotN=35EF0
(42.21)

Ví dụ 42.8: Khí electron tự do so với khí lý tưởng cổ điển ​

Bài toán:

  • (a) Hãy tìm động năng trung bình của các electron tự do trong đồng ở độ không tuyệt đối bằng cách sử dụng kết quả của Ví dụ 42.7.
  • (b) Nếu các electron này hành xử như một khối khí lý tưởng cổ điển ở nhiệt độ phòng 20∘C (293K), động năng tịnh tiến trung bình của mỗi electron và tốc độ tương ứng sẽ là bao nhiêu? So sánh các giá trị cổ điển này với giá trị lượng tử thực tế.

Phân tích và thiết lập:

  • Đối với phần (a), ta áp dụng hệ thức lượng tử (42.21) với EF0=7,03eV của đồng.
  • Đối với phần (b), mô hình động học phân tử cổ điển cho khí đơn nguyên tử xác định động năng tịnh tiến trung bình là Eav,cl=32kT. Tốc độ tương ứng tính từ công thức động năng cổ điển Eav,cl=12mv2.

Công thức và cơ sở áp dụng:

  • Năng lượng trung bình lượng tử ở T=0K:
Eav=35EF0
  • Năng lượng trung bình cổ điển theo định luật phân bố đều:
Eav,cl=32kT
  • Tốc độ tương ứng:
v=2Eav,clm

Các bước tính toán chi tiết:

  • Câu (a): Năng lượng trung bình của electron tự do trong đồng ở T=0K:
Eav=35(7,03eV)≈4,22eV

hoặc đổi sang đơn vị joule: Eav≈6,76×10−19J.

  • Câu (b): Nếu tuân theo khí lý tưởng cổ điển ở T=293K (kT≈0,02525eV):
Eav,cl=32(0,02525eV)≈0,0379eV

hay đổi sang joule: Eav,cl≈6,07×10−21J. Tốc độ chuyển động nhiệt cổ điển của electron sẽ là:

v=2Eav,clm≈1,15×105m/s

So sánh tỉ số năng lượng và tỉ số tốc độ:

Eav,clEav=0,0379eV4,22eV≈0,90%
vvF=1,15×105m/s1,57×106m/s≈7,3%

Đánh giá và nhận xét: Động năng dự đoán bởi mô hình cổ điển chỉ bằng khoảng 1% giá trị lượng tử thực tế, và tốc độ cổ điển chỉ bằng khoảng 7% tốc độ Fermi. Điều này cho thấy nhiệt độ môi trường đóng vai trò rất thứ yếu trong việc định hình động năng của electron trong kim loại. Năng lượng khổng lồ của các electron dẫn gần như hoàn toàn là hệ quả trực tiếp từ .

Trực giác cốt lõi: Khí electron trong kim loại là một hệ lượng tử suy biến cao độ. Do ngăn cản các electron chiếm cùng một trạng thái, các hạt bị cưỡng bức phải điền đầy các mức năng lượng cao ngay từ độ không tuyệt đối.


Đóng góp của electron vào nhiệt dung của kim loại ​

Sự thất bại của vật lý cổ điển thể hiện rõ nét nhất ở bài toán nhiệt dung của kim loại. Theo nguyên lý phân bố đều năng lượng của nhiệt động lực học cổ điển, nếu mỗi nguyên tử kim loại đóng góp một electron tự do chuyển động tịnh tiến ba chiều, khối khí electron này sẽ đóng góp một lượng vào nhiệt dung mol đẳng tích:

CV,cl=32R≈1,5R

Tuy nhiên, các phép đo thực nghiệm cho thấy nhiệt dung mol của kim loại ở nhiệt độ phòng hoàn toàn không tăng thêm 1,5R so với chất cách điện, mà gần như tuân theo đúng quy tắc Dulong–Petit của dao động mạng ion (CV≈3R).

Mô hình lượng tử Fermi–Dirac giải thích triệt để nghịch lý này:

  • Để một electron có thể hấp thụ năng lượng nhiệt khi nhiệt độ tăng thêm ΔT, nó bắt buộc phải nhảy lên một trạng thái lượng tử còn trống ở mức năng lượng cao hơn.
  • Do kT≪EF, hầu như toàn bộ các trạng thái nằm sâu bên dưới đều đã bị lấp kín, các electron tại đó không thể tìm thấy trạng thái trống liền kề để chuyển dời.
  • Chỉ có một phần rất nhỏ các electron nằm sát mặt Fermi trong phạm vi năng lượng cỡ kT mới có thể hấp thụ nhiệt và thay đổi trạng thái. Phân số electron tham gia quá trình này tỉ lệ thuận với kT/EF.

Do đó, nhiệt dung mol của khí electron tỷ lệ với (kT/EF)(3R/2). Phân tích lượng tử chính xác cho thấy đóng góp của electron vào nhiệt dung mol đẳng tích của kim loại là:

CV,elec=π2kT2EFR

Với mẩu đồng ở nhiệt độ phòng T=293K có EF≈7,03eV và kT≈0,02525eV:

CV,elec=π2(0,02525eV)2(7,03eV)R≈0,018R

Giá trị này chỉ chiếm khoảng 1,2% so với dự đoán sai lầm 1,5R của nhiệt động lực học cổ điển. Vì đóng góp của electron quá nhỏ bé, nhiệt dung của hầu hết các kim loại ở nhiệt độ thông thường chủ yếu xuất phát từ dao động nhiệt của các ion tại các nút .


Kiểm tra mức độ hiểu mục 42.5 ​

Một khối khí lý tưởng tuân theo phương trình trạng thái pV=nmolRT. Với thể tích V và số mol nmol không đổi, khi T giảm, áp suất p giảm tỉ lệ thuận và tiến về 0 khi T tiến dần về độ không tuyệt đối. Khẳng định này có đúng đối với chất trong kim loại rắn hay không?

Xem đáp án và giải thích

Đáp án: Không (Khẳng định trên hoàn toàn không đúng với ).

Giải thích chi tiết: Theo thuyết động học phân tử, áp suất của chất khí tỉ lệ thuận với động năng tịnh tiến trung bình Eav của các hạt cấu thành nên khí. Trong một khối khí lý tưởng cổ điển, động năng trung bình Eav=32kT tỷ lệ thuận trực tiếp với T, do đó áp suất giảm dần về 0 khi nhiệt độ hạ về độ không tuyệt đối.

Ngược lại, đối với trong kim loại, chuyển động của các hạt bị chi phối bởi chứ không phải bởi chuyển động nhiệt thông thường. Như đã chứng minh ở phương trình (42.21) và Ví dụ 42.8, ở độ không tuyệt đối động năng trung bình của electron vẫn duy trì một giá trị rất lớn Eav=35EF0 (đạt tới 4,22eV ở đồng). Khi nhiệt độ tăng từ 0K lên nhiệt độ phòng (293K), kích thích nhiệt chỉ làm thay đổi động năng trung bình chưa tới 1%. Vì vậy, áp suất suy biến của chất khí electron tự do trong lòng kim loại hầu như không thay đổi giữa nhiệt độ phòng và độ không tuyệt đối, và hoàn toàn không bao giờ tiến về 0 khi T→0K.

Tài liệu tham khảo ​

Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 42.5, trang 1421–1425.

Toàn bộ chủ đề của Lecture 22Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to