Giao diện
41.7 Phổ tia X
Tia X (tia Röntgen) là bức xạ điện từ có bước sóng rất ngắn, thường nằm trong khoảng từ
Phổ phát xạ tia X thu được gồm hai thành phần độc lập nhưng xếp chồng lên nhau:
- Phổ liên tục (bức xạ hãm – Bremsstrahlung): Tạo nên nền phổ trải dài trên một dải bước sóng rộng.
- Phổ đặc trưng: Gồm các vạch phát xạ sắc nhọn với cường độ rất lớn tại các bước sóng xác định, mang tính chất đặc trưng riêng của từng nguyên tố làm bia.

Chú thích:
- Quang phổ liên tục (Continuous spectrum)
- Các đỉnh nhọn sắc (Sharp peaks)
Phổ liên tục và bước sóng cắt ngắn
Khi các electron năng lượng cao xâm nhập vào bia kim loại, chúng bị tán xạ và giảm tốc đột ngột trong điện trường Coulomb mạnh mẽ của các hạt nhân nguyên tử bia. Theo điện động lực học, một hạt mang điện tích khi có gia tốc sẽ phát ra sóng điện từ. Trong tiếng Đức, bức xạ phát ra do sự hãm tốc này được gọi là Bremsstrahlung (bức xạ hãm).
Một electron có thể mất một phần hoặc toàn bộ động năng của nó sau một hoặc nhiều lần va chạm liên tiếp. Mỗi lần va chạm giải phóng một có năng lượng
Trường hợp giới hạn xảy ra khi electron bị hãm dừng lại hoàn toàn chỉ sau một lần va chạm trực diện duy nhất. Toàn bộ động năng ban đầu của nó biến thành năng lượng của một duy nhất:
Trong đó
Thay các hằng số vật lý:
Tính chất của bước sóng cắt ngắn
Bước sóng cắt ngắn
Phổ đặc trưng và mức năng lượng nguyên tử
Khi hiệu điện thế gia tốc đủ lớn, electron bắn phá có thể thâm nhập sâu vào các lớp vỏ bên trong của nguyên tử bia và đánh bật một electron ở lớp vỏ trong cùng ra khỏi nguyên tử.
Quá trình hình thành vạch đặc trưng diễn ra qua hai giai đoạn:
- Tạo lỗ trống: Một electron ở vỏ trong (thường là vỏ
, ứng với ) bị bắn bật ra ngoài, để lại một trạng thái trống gọi là lỗ trống (hole). Nguyên tử trở thành một ion kích thích với mức năng lượng rất cao. - Lấp đầy lỗ trống: Một electron từ một trong các vỏ ngoài có mức năng lượng cao hơn (như vỏ
với , vỏ với , hoặc vỏ với ) sẽ nhảy xuống lấp đầy lỗ trống ở vỏ . Trong quá trình chuyển dời này, nguyên tử phát ra một tia X có năng lượng đúng bằng độ chênh lệch năng lượng giữa hai mức dừng:
Vì năng lượng liên kết của các electron lớp trong bị chi phối trực tiếp bởi điện tích hạt nhân
Quy ước gọi tên các vạch quang phổ đặc trưng:
- Dãy K: Tạo thành khi electron từ các vỏ ngoài nhảy về lấp lỗ trống ở vỏ
( ): - Chuyển dời từ vỏ
( ) về vỏ ( ): Vạch . - Chuyển dời từ vỏ
( ) về vỏ ( ): Vạch . - Chuyển dời từ vỏ
( ) về vỏ ( ): Vạch .
- Chuyển dời từ vỏ
- Dãy L: Tạo thành khi electron từ các vỏ cao hơn nhảy về lấp lỗ trống ở vỏ
( ), phát ra các vạch Các vạch này có năng lượng nhỏ hơn và bước sóng dài hơn so với dãy .

Chú thích:
- Ba vạch trong mỗi dãy được gọi là các vạch Kα, Kβ và Kγ. Vạch Kα sinh ra do electron từ lớp L chuyển xuống chỗ trống ở lớp K, vạch Kβ do electron từ lớp M, và vạch Kγ do electron từ lớp N. (The three lines in each series are called the Kα, Kβ, and Kγ lines. The Kα line is produced by the transition of an L electron to the vacancy in the K shell, the Kβ line by an M electron, and the Kγ line by an N electron.)

Chú thích:
- Khu vực hiện trường vụ án, không đi qua (CRIME SCENE DO NOT CROSS)
Ứng dụng thực tiễn: Tia X trong khoa học hình sự
Phổ tia X là một công cụ quan trọng trong phân tích tội phạm. Khi một khẩu súng ngắn được bắn, một đám khói dư lượng thuốc súng (gunshot residue - GSR) được phụt ra từ nòng súng. Phổ phát xạ tia X của GSR bao gồm các đỉnh đặc trưng từ chì (
Định luật Moseley
Năm 1913, Henry G. J. Moseley khảo sát thực nghiệm của các nguyên tố. Ông nhận thấy tần số của vạch
Moseley phát hiện ra rằng căn bậc hai của tần số vạch phát xạ tỷ lệ bậc nhất với số thứ tự của nguyên tố trong bảng tuần hoàn:
Hệ thức thực nghiệm của Moseley đối với vạch
với hằng số thực nghiệm

Chú thích:
- Đồ thị căn bậc hai của tần số theo Z là một đường thẳng ... (The graph of √f versus Z is a straight line ...)
- ... với điểm cắt tại Z = 1, xác nhận định luật Moseley, PT (41.47). (... with an intercept at Z = 1, confirming Moseley’s law, Eq. (41.47).)
Ta có thể giải thích trực quan dựa trên kết hợp với hiện tượng che chắn điện tích:
- Để phát ra vạch
, nguyên tử trước tiên phải có một lỗ trống ở vỏ ( ). Do đó, tại vỏ chỉ còn lại duy nhất một electron. - Khi một electron ở vỏ
( ) chuẩn bị nhảy xuống lấp chỗ trống, nó chuyển động trong điện trường của hạt nhân mang điện tích bị che chắn bởi chính 1 electron còn lại kia. - Vì vậy, mà electron
cảm nhận được là:
Năng lượng của electron ở vỏ
Năng lượng của tia X phát ra khi electron chuyển từ
Tần số tương ứng:
với
Ví dụ 41.11: Phân tích nguyên tố bằng phổ phát xạ tia X
Một nhà khoa học bắn chùm electron vào một mẫu kim loại chưa biết và đo được bước sóng của vạch phát xạ
Nhận dạng bài toán: Bước sóng vạch
Chuẩn bị: Tần số của phát xạ được tính từ bước sóng:
Thực hiện: Tính tần số của bức xạ:
với bước sóng
Thay vào hệ thức Moseley:
Vì số hiệu nguyên tử
Tra bảng tuần hoàn, nguyên tố có
Đánh giá: Kết quả
Niels Bohr từng nhấn mạnh vai trò của những quan sát Moseley trong việc củng cố mô hình hạt nhân dương được các electron bao quanh. Moseley không nhận giải Nobel cho công trình này. Ông hy sinh khi mới 27 tuổi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn giải Nobel không được trao theo hình thức truy tặng.
Khái niệm cần nhớ: là một dấu vân tay nguyên tử độc nhất, cho phép định danh chính xác thành phần nguyên tố hóa học của vật chất.
Phổ hấp thụ tia X và bờ hấp thụ
Phổ hấp thụ tia X không đơn giản là đảo ngược phổ phát xạ. Vạch
Muốn được hấp thụ, phải đưa electron đến một trạng thái còn trống. Trạng thái cuối có thể là trạng thái liên kết còn trống hoặc trạng thái tự do. Trong nhiều nguyên tử nhiều electron, các mức trống đầu tiên chỉ thấp hơn mốc electron tự do vài electronvolt. Vì thế, ngưỡng hấp thụ của electron lớp sâu gần bằng năng lượng ion hóa của lớp ấy.
Khi đưa electron ra trạng thái tự do, điều kiện năng lượng là:
Quá trình này đòi hỏi năng lượng
Khi tăng dần năng lượng
- Khi
nhỏ hơn năng lượng ion hóa của vỏ , không đủ năng lượng để đánh bật electron vỏ . Độ hấp thụ tia X của vật liệu giảm dần khi năng lượng tăng. - Ngay khi năng lượng đạt tới ngưỡng liên kết của electron vỏ
, một kênh hấp thụ mới mở ra: Photon có thể đánh bật electron vỏ . Tại điểm này, độ hấp thụ tăng vọt đột ngột lên gấp nhiều lần. Bước nhảy hấp thụ đột ngột này được gọi là bờ hấp thụ K (K absorption edge). - Tương tự, ở các dải năng lượng thấp hơn, ta quan sát thấy các bờ hấp thụ ứng với các phân lớp của vỏ
( ).

Chú thích:
- Độ hấp thụ (Absorption)
- Bờ hấp thụ K (K absorption edge)
Câu tự kiểm tra 41.7
Một chùm được truyền qua một mẫu khí hydro nguyên tử ở nhiệt độ cao. Tại giá trị năng lượng photon nào sau đây ta kỳ vọng sẽ xuất hiện bờ hấp thụ tương tự như bờ hấp thụ hiển thị trong Hình 41.26?
(i)
(ii)
(iii)
(iv) Tất cả các mức này
(v) Không có mức nào trong số này
Lời giải chi tiết
Đáp án đúng: (iv) Tất cả các mức này.
Lập luận: Một bờ hấp thụ xuất hiện nếu năng lượng của vừa đủ lớn để bứt một electron ở một mức năng lượng cho trước ra khỏi nguyên tử (tức là chuyển lên trạng thái tự do
Trong một mẫu khí hydro ở nhiệt độ cao, các va chạm nhiệt làm cho một phần các nguyên tử bị kích thích lên các trạng thái cao hơn, do đó ta kỳ vọng sẽ tìm thấy các nguyên tử có electron ở trạng thái cơ bản (
Theo PT (41.21), mức năng lượng của nguyên tử hydro có dạng:
Với
- Từ mức
: - Từ mức
: - Từ mức
:
Vì vậy, ta kỳ vọng sẽ quan sát thấy một bờ hấp thụ tại mỗi giá trị năng lượng này, do đó đáp án đúng là (iv).
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 41.7, trang 1392–1395.