Giao diện
38.1. Ánh sáng bị hấp thụ dưới dạng photon: Hiệu ứng quang điện
Một hiện tượng mang lại hiểu biết sâu sắc về bản chất của ánh sáng là (photoelectric effect), trong đó một vật liệu giải phóng các electron ra khỏi bề mặt khi được chiếu sáng (Hình 38.1). Để thoát khỏi bề mặt, electron phải hấp thụ đủ từ ánh sáng chiếu tới nhằm thắng lực hút tĩnh điện của các ion dương trong mạng tinh thể. Lực hút này tạo thành một rào thế năng. Ánh sáng cung cấp "cú hích" năng lượng cho phép electron bứt ra ngoài.

Chú thích:
- Hiệu ứng quang điện: Ánh sáng bị hấp thụ bởi một bề mặt làm các electron bị bứt ra. (Photoelectric effect: Light absorbed by a surface causes electrons to be ejected.)
- Để bứt một electron ra, ánh sáng phải cung cấp đủ năng lượng để thắng các lực liên kết giữ electron trong vật liệu. (To eject an electron the light must supply enough energy to overcome the forces holding the electron in the material.)
- Các electron (Electrons)
- Ánh sáng (Light)
có nhiều ứng dụng kỹ thuật quan trọng trong đời sống. Máy ảnh kỹ thuật số và ống kính nhìn đêm sử dụng hiệu ứng này để chuyển đổi ánh sáng thành tín hiệu điện, sau đó dựng lại thành hình ảnh trực quan (Hình 38.2). Dưới ánh sáng Mặt Trời, lớp bụi bề mặt Mặt Trăng cũng liên tục giải phóng electron qua hiệu ứng quang điện, khiến các hạt bụi tích điện dương. Lực đẩy tĩnh điện tương hỗ giữa các hạt bụi tích điện cùng dấu làm chúng bay lơ lửng phía trên bề mặt Mặt Trăng, một hiện tượng từng được các phi hành gia trên tàu Apollo quan sát thấy từ quỹ đạo Mặt Trăng.

Tần số ngưỡng và hiệu điện thế hãm
Trong lý thuyết cổ điển, cường độ của sóng gắn liền với độ lớn của vectơ Poynting và biên độ trường điện từ. Để tìm hiểu các electron bứt ra tương tác thế nào với ánh sáng, ta khảo sát một bố trí thí nghiệm hiện đại được thể hiện trên Hình 38.3.

Chú thích:
- Catôt (Cathode)
- Anôt (Anode)
- Ống chân không (Vacuum tube)
- Ánh sáng đơn sắc (Monochromatic light)
- Quỹ đạo electron (Electron trajectory)
- Ánh sáng làm catôt phát ra các electron. (Light causes cathode to emit electrons.)
- Điện trường E đẩy các electron về phía anôt. (E field pushes electrons to anode.)
- Các electron quay trở lại catôt qua mạch điện và điện kế đo dòng điện. (Electrons return to cathode via circuit; galvanometer measures current.)
- Điện thế của anôt so với catôt (Potential of anode relative to cathode)
- Bây giờ ta đảo chiều điện trường sao cho nó có xu hướng đẩy lùi các electron khỏi anôt. Vượt quá một cường độ điện trường nhất định, các electron không còn tới được anôt nữa. (We now reverse the electric field so that it tends to repel electrons from the anode. Above a certain field strength, electrons no longer reach the anode.)
- Hiệu điện thế hãm mà tại đó dòng điện triệt tiêu có giá trị tuyệt đối V0. (The stopping potential at which the current ceases has absolute value V0.)
Bố trí gồm hai điện cực đặt bên trong một ống chân không (Hình 38.3a). Áp suất không quá
Bây giờ ta đảo chiều điện áp nguồn sao cho anôt tích điện âm so với catôt (
Đại lượng
Suy ra động năng ban đầu cực đại của các electron quang điện liên hệ trực tiếp với theo công thức:
Trong đó
Dự đoán của mô hình sóng cổ điển và mâu thuẫn thực nghiệm
Dựa trên lý thuyết của Maxwell, ánh sáng là sóng lan truyền liên tục trong không gian. Cường độ của sóng tỷ lệ với bình phương biên độ điện trường và không phụ thuộc vào sóng. Dưới góc nhìn sóng cổ điển, ta rút ra ba dự đoán sau:
- Dự đoán của mô hình sóng 1: Vì cường độ sóng chỉ phụ thuộc biên độ trường mà không phụ thuộc , phải xảy ra với ánh sáng ở bất kỳ tần số nào, miễn là cường độ đủ lớn. Độ lớn của dòng quang điện cũng không phụ thuộc vào tần số ánh sáng.
- Dự đoán của mô hình sóng 2: Để bứt một electron ra khỏi mạng tinh thể, bề mặt kim loại cần tiếp nhận một tối thiểu gọi là (work function). Nếu ánh sáng chiếu tới rất yếu, cần một khoảng thời gian nhất định để bề mặt tích lũy đủ năng lượng cung cấp cho electron. Do đó, với ánh sáng yếu, ta dự đoán sẽ có một độ trễ thời gian đo được từ lúc bật đèn tới lúc xuất hiện .
- Dự đoán của mô hình sóng 3: mà sóng truyền cho catôt tăng theo cường độ chiếu sáng. Do đó, cần thiết để ngăn các electron nhanh nhất phải tăng khi cường độ ánh sáng tăng. Mặt khác, vì cường độ sóng không phụ thuộc , hiệu điện thế hãm không phụ thuộc vào tần số của ánh sáng chiếu tới.
Thực nghiệm đo đạc từ năm 1877 đến năm 1905 cho thấy những kết quả hoàn toàn trái ngược với cả ba dự đoán trên:
- Kết quả thực nghiệm 1: Dòng quang điện phụ thuộc quyết định vào ánh sáng. Đối với mỗi vật liệu catôt xác định, tồn tại một tần số ngưỡng (threshold frequency)
. Nếu tần số ánh sáng nhỏ hơn , hoàn toàn không có dòng quang điện nào xuất hiện, bất kể cường độ chùm sáng mạnh đến mức nào. Với đa số kim loại, tần số ngưỡng nằm trong dải tử ngoại (bước sóng từ đến ). Đối với một số vật liệu như oxit kali hoặc oxit cesi, tần số ngưỡng nằm trong vùng ánh sáng nhìn thấy ( từ đến ). - Kết quả thực nghiệm 2: Hoàn toàn không có độ trễ thời gian đo được giữa thời điểm chiếu sáng và thời điểm giải phóng electron (khi ánh sáng lớn hơn tần số ngưỡng). Ngay cả khi chùm sáng có cường độ rất nhỏ, các electron quang điện vẫn bứt ra gần như tức thời.
- Kết quả thực nghiệm 3:
hoàn toàn không phụ thuộc vào cường độ ánh sáng, mà phụ thuộc tuyến tính vào ánh sáng (Hình 38.4).

Chú thích:
- Hiệu điện thế hãm V0 không phụ thuộc vào cường độ ánh sáng ... (The stopping potential V0 is independent of the light intensity ...)
- Dòng quang điện i khi VAC dương lớn tỷ lệ thuận với cường độ. (... but the photocurrent i for large positive VAC is directly proportional to the intensity.)
- f không đổi. (f is constant.)
- Cường độ không đổi I (Constant intensity I)
- Cường độ không đổi 2I (Constant intensity 2I)
Hình 38.4 cho thấy đồ thị dòng quang điện
Lời giải thích của Einstein bằng mô hình photon
Các kết quả thực nghiệm nói trên mâu thuẫn trực tiếp với lý thuyết cổ điển. Năm 1905, Albert Einstein đã giải quyết bế tắc này bằng việc đề xuất một mô hình mang tính cách mạng về bản chất của ánh sáng.
Einstein giả thuyết rằng một chùm ánh sáng không phân bố liên tục theo mặt sóng, mà bao gồm các gói năng lượng tập trung rời rạc gọi là hoặc lượng tử (quanta). Ý tưởng này là sự kế thừa và phát triển từ giả thuyết lượng tử năng lượng do Max Planck đưa ra năm 1900 khi giải thích bức xạ vật đen.
Theo mô hình của Einstein,
Trong đó
Lưu ý: Bản chất của photon khác biệt hoàn toàn với hạt vật chất cổ điển
Ta không thể hình dung như một viên bi thu nhỏ theo cơ học cổ điển. Một viên bi có khối lượng nghỉ dương và chuyển động với vận tốc nhỏ hơn tốc độ ánh sáng
Trong bức tranh của Einstein, toàn bộ của một tới bề mặt kim loại được hấp thụ trọn vẹn bởi duy nhất một electron. Electron chỉ có thể thoát khỏi bề mặt nếu năng lượng nó nhận được lớn hơn
cực đại tương ứng của ánh sáng có thể gây ra hiện tượng quang điện được gọi là giới hạn quang điện hay bước sóng ngưỡng:
Giả thuyết cũng giải thích sự vắng mặt của độ trễ thời gian. Quá trình hấp thụ photon diễn ra gần như tức thời. Ngay khi một photon có
Cuối cùng, áp dụng định luật bảo toàn cho quá trình bứt electron, Einstein thiết lập phương trình cho động năng ban đầu cực đại
Kết hợp phương trình (38.3) với hệ thức
Chia cả hai vế của phương trình (38.4) cho điện tích nguyên tố
Lưu ý: Công thoát càng lớn thì động năng quang electron càng nhỏ
Phương trình (38.3) chỉ ra rằng: Với cùng một ánh sáng chiếu tới, vật liệu có
Phương trình (38.4) cho thấy

Độ dốc của đường thẳng trên Hình 38.5 bằng

Chú thích:
- Hiệu điện thế hãm (Stopping potential)
- Tần số f (Frequency f)
- Tần số ngưỡng (Threshold frequency)
- Vật liệu 1 (Material 1)
- Vật liệu 2 (Material 2)
- Hiệu điện thế hãm bằng không tại tần số ngưỡng (các electron bứt ra với động năng bằng không). (Stopping potential is zero at threshold frequency (electrons emerge with zero kinetic energy).)
- Đối với mỗi vật liệu, (For each material,)
- Do đó các đồ thị có cùng độ dốc h/e nhưng có các giao điểm khác nhau -ϕ/e trên trục tung. (so the plots have same slope h/e but different intercepts -ϕ/e on the vertical axis.)
Hình 38.6 so sánh đồ thị
của các hạt vi mô và thường được biểu diễn thuận tiện bằng đơn vị (
Bảng 38.1 liệt kê của một số nguyên tố kim loại và bán dẫn thông dụng. Các giá trị này mang tính gần đúng vì công thoát rất nhạy cảm với tạp chất và trạng thái xử lý bề mặt vật liệu.
| Nguyên tố | |
|---|---|
| Nhôm ( | |
| Carbon ( | |
| Đồng ( | |
| Vàng ( | |
| Nickel ( | |
| Silicon ( | |
| Bạc ( | |
| Natri ( |
Bảng 38.1: của một số nguyên tố hóa học.
Vì sao ánh sáng tử ngoại gây rám da?
Ánh sáng Mặt Trời có thể kích hoạt phản ứng hóa học trong tế bào da, làm tăng sản xuất sắc tố melanin. Phản ứng chỉ xảy ra nếu một phân tử nhận đủ tối thiểu. tử ngoại có ngắn có thể cung cấp năng lượng ấy, còn photon ánh sáng nhìn thấy có bước sóng dài hơn thì không. Vì vậy, trong cơ chế đang xét, tia tử ngoại gây rám da còn ánh sáng nhìn thấy không gây ra phản ứng này.
Động lượng của photon
Khái niệm của Einstein áp dụng cho toàn bộ các dải sóng của thang , từ sóng vô tuyến, tia hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy đến tia X và tia gamma. Một photon có
Theo thuyết tương đối hẹp, mang và dù khối lượng nghỉ bằng không (
có hướng cùng chiều truyền của . càng cao và bước sóng càng ngắn thì độ lớn động lượng càng lớn. Phương trình (38.5) thể hiện tính chất sóng–hạt: Động lượng
Chiến lược giải bài toán: Photon
- Nhận dạng bài toán: Xác định xem bài toán liên quan đến và của đơn lẻ hay . Trong hiệu ứng quang điện, bài toán dựa trên định luật bảo toàn năng lượng khi một electron hấp thụ trọn vẹn một photon tới.
- Chuẩn bị: Xác định rõ đại lượng cần tìm. Đó có thể là
, tần số , hoặc của . Trong , đó là động năng cực đại , , , hay tần số ngưỡng . - Thực hiện:
- Sử dụng phương trình (38.2)
và phương trình (38.5) để chuyển đổi giữa các thông số của . Nếu liên quan đến , áp dụng các phương trình (38.1), (38.3) và (38.4) để liên hệ ánh sáng, , và động năng cực đại. - Lựa chọn hệ đơn vị phù hợp: Khi tính theo (
), sử dụng . Khi tính theo joule ( ), sử dụng . Nhớ rằng .
- Sử dụng phương trình (38.2)
- Đánh giá: Khi mới làm quen với vật lý lượng tử, các giá trị số học thường rất nhỏ và khó nhận biết sai số bằng trực giác. Ta nên ghi nhớ mốc chuẩn: Một ánh sáng nhìn thấy có
và tần số mang khoảng , tương đương khoảng .
Ví dụ 38.1: Các photon phát ra từ bút chỉ laser
Một bút chỉ laser phát ra chùm ánh sáng đỏ có
- (a) Xác định độ lớn của mỗi phát ra.
- (b) Tính số mà bút chỉ laser phát ra trong mỗi giây.
Nhận dạng bài toán: Bài toán yêu cầu xác định và của các đơn lẻ phát ra từ một nguồn sáng đơn sắc có công suất xác định.
Chuẩn bị: Ta đổi các đại lượng về đơn vị chuẩn SI:
Thực hiện: (a) Độ lớn của mỗi được tính từ
(b) của mỗi tính theo hệ thức
Vì bút chỉ laser phát ra với tốc độ
Đánh giá: Giá trị tìm được ở câu (a) rất nhỏ. Để so sánh trực quan: Một phân tử oxy thông thường chuyển động nhiệt trong không khí ở nhiệt độ phòng có động lượng lớn gấp khoảng 2500 lần động lượng của này. Ta cũng có thể kiểm tra lại photon ở câu (b) từ phương trình (38.2) với
Kết quả ở câu (b) chỉ ra rằng một số lượng rất lớn rời khỏi bút laser trong mỗi giây. Mỗi photon chỉ mang một lượng rất nhỏ, khiến mắt người và các thiết bị đo thông thường không nhận biết được tính gián đoạn của dòng hạt, tạo cảm giác năng lượng truyền đi như một dòng chảy liên tục.
Khái niệm cần nhớ: đồng thời mang các đặc tính hạt ( và ) và đặc tính sóng ( và bước sóng). Năng lượng
Ví dụ 38.2: Một thí nghiệm về hiệu ứng quang điện
Trong một thí nghiệm về sử dụng ánh sáng có xác định, người ta nhận thấy cần một hiệu điện thế ngược có độ lớn
- (a) Động năng ban đầu cực đại của các electron quang điện phát ra theo đơn vị joule và .
- (b) Tốc độ cực đại của các electron quang điện này.
Nhận dạng bài toán: Dữ kiện cho biết hiệu điện thế ngược làm tắt dòng điện, tức là
Chuẩn bị: Áp dụng phương trình (38.1)
Thực hiện: (a) Áp dụng phương trình (38.1) với
Nhớ rằng
(b) Từ hệ thức động năng
Đánh giá: Giá trị tốc độ cực đại
Khái niệm cần nhớ: Trong thí nghiệm quang điện, các electron phát ra từ catôt có động năng phân bố từ 0 đến giá trị cực đại
Ví dụ 38.3: Xác định công thoát và hằng số Planck bằng thực nghiệm
Đối với một vật liệu catôt xác định trong thí nghiệm quang điện, ta đo được các tương ứng với ba chiếu tới khác nhau: Cụ thể,
Nhận dạng bài toán: Bài toán yêu cầu xác định
Chuẩn bị: Theo phương trình (38.4), đồ thị biểu diễn
Thực hiện: Từ và tốc độ ánh sáng
Viết lại phương trình (38.4) dưới dạng hàm số bậc nhất:
Độ dốc của đường thẳng là
Do đó, của vật liệu là:
Độ dốc của đường thẳng được tính từ tỉ số biến thiên giữa các điểm thực nghiệm, với
Từ độ dốc này và điện tích nguyên tố
Đánh giá: Giá trị
Khái niệm cần nhớ: Để phân tích kết quả thí nghiệm quang điện, ta vẽ đồ thị theo ánh sáng. Tung độ gốc của đường thẳng cho phép tính của vật liệu catôt, còn độ dốc của đường thẳng cho phép xác định trực tiếp .
Khử trùng bằng photon năng lượng cao
Một ứng dụng sinh học quan trọng của cao là tiêu diệt các vi sinh vật gây hại. Người ta chiếu xạ các vi sinh vật bằng tia tử ngoại có ngắn hơn

Câu hỏi tự kiểm tra 38.1
Các màng mỏng silicon trở thành chất dẫn điện tốt hơn khi được chiếu bởi các có từ
- (i) Ánh sáng tử ngoại có
. - (ii) Ánh sáng đỏ có
. - (iii) Ánh sáng hồng ngoại có
. - (iv) Cả hai trường hợp (i) và (ii).
- (v) Toàn bộ các trường hợp (i), (ii) và (iii).
Xem đáp án và giải thích
Đáp án đúng: Chọn (iv).
Lời giải chi tiết: Từ phương trình (38.2)
này nằm trong vùng hồng ngoại của thang . Vì tỷ lệ nghịch với bước sóng, năng lượng photon tối thiểu
Cả ánh sáng tử ngoại với
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 38.1, trang 1253–1259.