Giao diện
38.2. Ánh sáng phát xạ dưới dạng photon: Sự phát tia X
cho thấy ánh sáng được hấp thụ dưới dạng . Để kiểm tra mô hình này ở quá trình phát, ta xét thí nghiệm tạo tia X bằng cách cho electron nhanh đập vào bề mặt vật liệu.
Tia X được nhà vật lý người Đức Wilhelm Röntgen phát hiện lần đầu tiên vào năm 1895. Ông sử dụng một thiết bị có nguyên lý hoạt động tương tự như bố trí trên Hình 38.7.

Chú thích:
- Các electron được phát xạ nhiệt từ catôt nung nóng và được gia tốc về phía anôt. Khi chúng đập vào anôt, tia X được tạo ra. (Electrons are emitted thermionically from the heated cathode and are accelerated toward the anode; when they strike it, x rays are produced.)
- Nguồn cấp điện cho sợi đốt (Power supply for heater)
- Catôt nung nóng (Heated cathode)
- Anôt (Anode)
- Điện áp gia tốc V (Accelerating voltage V)
- Chùm tia X (X-ray beam)
Cấu tạo của thiết bị gồm một bóng thủy tinh được hút chân không cao (áp suất dư cỡ
Tương tự như trong , tối thiểu mà một electron đơn lẻ cần tiếp nhận để thoát khỏi bề mặt catôt bằng đúng
Bức xạ hãm và phổ liên tục của tia X
Bề mặt anôt kim loại phát ra tia X phần lớn là do sự hãm dừng đột ngột của các electron khi đập vào bia. Theo lý thuyết điện động lực học cổ điển, các điện tích chuyển động có gia tốc sẽ phát ra (Mục 32.1). Quá trình bức xạ sinh ra do sự hãm chuyển động của hạt tích điện được gọi là (tiếng Đức: Bremsstrahlung, có nghĩa là "bức xạ do hãm phanh").
Vì các electron chịu gia tốc hãm có độ lớn khổng lồ khi va chạm với các nguyên tử bia, phần lớn bức xạ phát ra có rất ngắn nằm trong dải tia X, từ khoảng
So sánh mô hình sóng cổ điển và mô hình photon
Ta hãy so sánh dự đoán của lý thuyết Maxwell cổ điển với các kết quả đo đạc thực nghiệm đối với :
- Dự đoán của mô hình sóng cổ điển: phát ra khi một chùm electron va chạm mạnh vào anôt kim loại tương tự như sóng âm phát ra khi ta đập mạnh hai chiếc chũm chọe vào nhau. Va chạm cơ học tạo ra sóng âm gồm đủ mọi âm thanh. Tương tự, mô hình sóng cổ điển dự đoán tia X sinh ra từ phải có phổ liên tục bao gồm toàn bộ các tần số và toàn bộ các bước sóng, không có bất kỳ giới hạn cắt nào.
- Kết quả thực nghiệm: Hình 38.8 thể hiện các đường phổ thu được khi sử dụng cùng một catôt và anôt bằng kim loại vonfram (tungsten) ở bốn hiệu điện thế gia tốc
khác nhau ( , , và ).

Chú thích:
- Trục tung: Cường độ tia X trên một đơn vị bước sóng (Vertical axis: x-ray intensity per unit wavelength)
- Trục hoành: Bước sóng tia X tính bằng picomet (1 pm = 10-12 m) (Horizontal axis: x-ray wavelength in picometers (1 pm = 10-12 m))
Kết quả thực nghiệm trên Hình 38.8 chỉ ra rằng không phải mọi và bước sóng đều được phát ra:
- Mỗi đường phổ ứng với một hiệu điện thế gia tốc xác định đều có một cực đại
và một bước sóng cực tiểu giới hạn (tương ứng với các điểm cắt trục hoành ). Hoàn toàn không có tia X nào được phát ra với bước sóng ngắn hơn giá trị này. - Hiệu điện thế gia tốc
càng lớn thì cực đại càng cao và bước sóng cực tiểu càng dịch chuyển về phía ngắn hơn.
Mô hình sóng cổ điển hoàn toàn bất lực trong việc giải thích sự tồn tại của cực tiểu
Một electron có độ lớn điện tích
Từ phương trình (38.6), ta rút ra biểu thức xác định cực tiểu của tia X phát ra do , thường được gọi là định luật Duane–Hunt:
Trong phương trình (38.6), ta đã bỏ qua của anôt và động năng ban đầu của các electron nhiệt khi rời khỏi catôt. Những này chỉ cỡ vài , hoàn toàn không đáng kể so với động năng
Nếu electron chỉ mất một phần động năng của nó trong một lần va chạm, sinh ra sẽ mang nhỏ hơn
Các phép đo thực nghiệm chuẩn xác khẳng định giá trị
Bên cạnh liên tục, thiết bị trên Hình 38.7 còn có thể phát ra tia X qua một cơ chế thứ hai: Các electron tới có động năng đủ lớn va chạm trực tiếp và đánh bật các electron nằm ở các lớp vỏ bên trong của nguyên tử bia anôt. Khi một electron ở lớp ngoài có mức cao hơn nhảy xuống lấp chỗ trống ở lớp trong, nguyên tử phát ra một tia X mang năng lượng bằng đúng độ chênh lệch giữa hai mức năng lượng đó. Cơ chế này tạo nên các vạch phổ phát xạ đặc trưng sắc nhọn (characteristic x-ray lines) nằm chồng lên phổ bức xạ hãm liên tục. Phổ vạch đặc trưng phản ánh cấu trúc mức năng lượng nguyên tử của vật liệu làm bia và sẽ được chúng ta tìm hiểu chi tiết ở Mục 41.7.
Ví dụ 38.4: Phát tia X
Các electron trong một ống phát tia X được gia tốc qua một hiệu điện thế
Nhận dạng bài toán: Bài toán yêu cầu xác định cực tiểu của tia X phát ra từ khi biết hiệu điện thế gia tốc của ống.
Chuẩn bị: Để tạo ra tia X có cực tiểu
Thực hiện: Khi sử dụng đơn vị chuẩn SI, ta có
Khi tính toán theo đơn vị , động năng của electron được gia tốc qua
Trong cách tính thứ hai, ký hiệu độ lớn điện tích electron
Đánh giá: Để kiểm tra kết quả, ta nhớ lại từ Ví dụ 38.1 rằng một có
Khái niệm cần nhớ: Trong , có cực đại và cực tiểu
Các ứng dụng thực tiễn của tia X
Tia X có phạm vi ứng dụng thực tiễn to lớn trong y học, công nghiệp và nghiên cứu khoa học:
- Chụp ảnh X-quang y tế và kiểm tra công nghiệp: Nhờ mang rất cao (từ vài kilô đến hàng trăm kilô electron-volt), các tia X có khả năng đâm xuyên sâu qua vài xentimet vật chất rắn. Do đó, người ta sử dụng tia X để chụp ảnh cấu trúc bên trong của các vật thể chắn sáng đối với ánh sáng nhìn thấy, chẳng hạn xương gãy hoặc khuyết tật trong thép kết cấu.
Vật thể cần quan sát được đặt ở giữa nguồn phát tia X và một đầu dò điện tử (hoặc tấm phim nhạy sáng). Vùng nhận được càng nhiều tia X truyền qua sẽ ghi nhận mức độ phơi sáng càng cao và hiện lên với màu sẫm hơn trên ảnh âm bản. Xương hấp thụ tia X hiệu quả hơn nhiều so với mô mềm, nên xương hiện lên như những vùng sáng rõ nét. Vết nứt trong kim loại cho tia X đi qua dễ dàng hơn và hiện lên như những vệt tối.
- Chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography - CT Scanner): Một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh tiên tiến được phát triển từ tia X là máy quét CT (Hình 38.9).

Trong máy quét CT, nguồn phát tia X tạo ra một chùm tia hẹp dạng nan quạt quay tròn xung quanh cơ thể bệnh nhân trong mặt phẳng cần khảo sát. Ở phía đối diện, một dãy gồm hàng trăm đầu dò điện tử nhạy tia X được bố trí thẳng hàng để đo cường độ bức xạ truyền qua dọc theo từng đường truyền hẹp xuyên qua cơ thể. Khi toàn bộ hệ thống nguồn và đầu dò quay quanh bệnh nhân, tốc độ đếm biến thiên liên tục của các đầu dò được thu thập và số hóa.
Máy tính tiếp nhận dữ liệu này, áp dụng các thuật toán tái tạo toán học phức tạp để tính toán hệ số hấp thụ tại từng điểm thể tích nhỏ và dựng lại hình ảnh mặt cắt ngang chi tiết của cơ thể. Kỹ thuật CT có thể phân biệt được sự chênh lệch độ hấp thụ tia X rất nhỏ (dưới
- Tác hại sinh học của bức xạ ion hóa: Bên cạnh các lợi ích to lớn, tia X là một dạng bức xạ ion hóa có thể gây tổn thương nghiêm trọng cho mô sống. Khi các tia X mang cao bị hấp thụ trong tế bào, chúng bẻ gãy các liên kết hóa học trong phân tử sinh học và tạo ra các gốc tự do có hoạt tính hóa học cực mạnh (như các gốc
và trung hòa). Các gốc tự do này phá vỡ cấu trúc không gian của protein và đặc biệt là làm đứt gãy các chuỗi ADN trong nhiễm sắc thể.
Các tế bào non và các tế bào đang trong giai đoạn phân chia nguyên phân nhanh chóng đặc biệt nhạy cảm với tổn thương bức xạ. Đặc tính này được y học khai thác để chiếu xạ tiêu diệt có chọn lọc các tế bào khối u ác tính trong xạ trị ung thư. Tuy nhiên, một tế bào bình thường bị tổn thương bởi tia X nhưng không chết có thể tiếp tục phân chia và tạo ra các thế hệ tế bào biến dị, gây ung thư. Thậm chí khi cơ thể không biểu hiện tổn thương trực tiếp, việc phơi nhiễm tia X quá mức có thể gây đột biến trong tế bào sinh dục, để lại di chứng cho các thế hệ sau. Vì vậy, việc tuân thủ các quy chuẩn an toàn bức xạ và cân nhắc cẩn trọng giữa lợi ích chẩn đoán với nguy cơ phơi nhiễm là yêu cầu bắt buộc đối với nhân viên y tế và bệnh nhân.
Cơ chế hấp thụ tia X trong chẩn đoán y tế
Các electron trong lớp vỏ nguyên tử có khả năng hấp thụ tia X thông qua trong và tán xạ. Do đó, các vật liệu cấu tạo từ các nguyên tử có nhiều electron (nguyên tử số
Trong ảnh chụp X-quang y tế, các vùng sáng cho thấy nơi tia X bị hấp thụ mạnh khi đi qua cơ thể, còn các vùng tối biểu thị các khu vực cho tia X truyền qua tương đối dễ dàng. Mô xương chứa hàm lượng lớn các nguyên tố khoáng như phosphor (

Câu hỏi tự kiểm tra 38.2
Trong thiết bị phát tia X ở Hình 38.7, giả sử ta tăng số lượng electron phát ra từ catôt trong mỗi giây nhưng vẫn giữ nguyên hiệu điện thế gia tốc
- (i)
và đều tăng. - (ii)
sẽ tăng nhưng không đổi. - (iii)
sẽ tăng nhưng giảm. - (iv)
giữ nguyên nhưng giảm. - (v) Không có phương án nào trong các phương án trên là đúng.
Xem đáp án và giải thích
Đáp án đúng: Chọn (ii).
Lời giải chi tiết: Phương trình (38.6)
Khi ta giữ nguyên
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 38.2, trang 1259–1262.