Giao diện
36.5 Cách tử nhiễu xạ
Cách tử có những khe hoặc rãnh như thế nào?
Chúng ta vừa thấy rằng việc tăng số lượng khe trong một thí nghiệm giao thoa (trong khi vẫn giữ nguyên khoảng cách giữa các khe kề nhau) tạo ra các hình ảnh giao thoa mà ở đó các cực đại nằm ở cùng vị trí, nhưng hẹp dần một cách rõ rệt so với thí nghiệm hai khe. Vì các cực đại này quá hẹp, vị trí góc của chúng, và do đó bước sóng ánh sáng, có thể được đo lường với độ chính xác rất cao. Hiệu ứng này mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn quan trọng.
Một dãy gồm một số lượng rất lớn các khe song song, tất cả đều có cùng bề rộng

Trên Hình 36.16, đoạn
Để xuất hiện góc lệch nhiễu xạ đáng kể, chu kỳ cách tử
Vị trí các cực đại giao thoa chính
Xét chùm tia sáng song song đơn sắc bước sóng
với
Để thấy rõ bản chất giao thoa nhiều nguồn, ta khai triển tường minh độ lệch pha giữa hai khe liên tiếp. Độ lệch pha
Khi có
Tại các góc thỏa mãn
Giữa hai cực đại chính kế tiếp có
Các vạch ứng với
Cách tử phản xạ
Bên cạnh , người ta còn chế tạo cách tử phản xạ (reflection grating). Bề mặt của cách tử phản xạ là một gương phẳng hoặc gương cầu có phủ các đường rãnh song song cách đều. Khi chùm sáng chiếu vào, ánh sáng phản xạ từ các gờ rãnh liên tiếp sẽ giao thoa với nhau. Điều kiện cực đại của chùm phản xạ cũng tuân theo đúng Phương trình (36.13) nếu ánh sáng tới vuông góc với mặt cách tử.

Một ví dụ trực quan sinh động của trong đời sống thường ngày là bề mặt của đĩa DVD (Hình 36.17). Trên bề mặt đĩa có các rãnh xoắn ốc chứa các hốc ghi dữ liệu cực nhỏ với độ sâu khoảng
Ví dụ 36.4: Bề rộng của quang phổ cách tử
Dải bước sóng của quang phổ ánh sáng nhìn thấy trải dài từ khoảng
a) Tìm giới hạn góc của quang phổ bậc một nhìn thấy được tạo bởi một cách tử phẳng có
b) Quang phổ bậc một và quang phổ bậc hai có chồng lấn lên nhau không? Quang phổ bậc hai và quang phổ bậc ba thì sao? Các kết luận này có phụ thuộc vào chu kỳ cách tử không?
Nhận dạng bài toán: Bài toán yêu cầu xác định khoảng góc nhiễu xạ ứng với các dải bước sóng nhìn thấy ở các bậc quang phổ
Chuẩn bị: Chu kỳ cách tử
Góc nhiễu xạ ứng với mỗi bước sóng được rút ra từ Phương trình (36.13):
Thực hiện:
a) Với quang phổ bậc một (
Như vậy, quang phổ bậc một trải dài từ góc
b) Xét quang phổ bậc hai (
Với ánh sáng tím (
Với ánh sáng đỏ (
Giá trị
Với góc biên ấy, điều kiện cách tử cho:
So sánh các dải góc:
- Quang phổ bậc một nằm trong khoảng
. - Quang phổ bậc hai nằm trong khoảng
. Vì nên quang phổ bậc một và quang phổ bậc hai không hề chồng lấn lên nhau. - Quang phổ bậc ba trải từ
đến . Vì nên quang phổ bậc hai và quang phổ bậc ba bị chồng lấn một phần trong vùng góc từ đến .
Các kết luận này không phụ thuộc vào chu kỳ cách tử
Đánh giá: Nguyên nhân bản chất khiến quang phổ bậc một và bậc hai của ánh sáng nhìn thấy không chồng lấn là mắt người chỉ nhạy với một dải bước sóng tương đối hẹp (tỷ số giữa bước sóng dài nhất và ngắn nhất xấp xỉ
Khái niệm cốt lõi: Góc lệch của các cực đại chính trong được xác định đồng thời bởi chu kỳ cách tử và bước sóng ánh sáng. Công thức góc giống hệt thí nghiệm giao thoa hai khe, nhưng các vạch cực đại của cách tử hẹp và sắc nét hơn rất nhiều nhờ sự chồng chất của rất nhiều khe.
Máy quang phổ cách tử
Khả năng phân tách các bước sóng riêng biệt của cách tử được ứng dụng chủ chốt trong các máy quang phổ cách tử (grating spectrograph). Ánh sáng phát ra từ một nguồn được chuẩn trực thành chùm song song, chiếu qua cách tử để thành các vạch quang phổ, sau đó hội tụ lên cảm biến quang điện tử để đo đạc chính xác bước sóng dựa vào góc lệch

Một ứng dụng mang tính bước ngoặt của kỹ thuật này là trong thiên văn học. Khi ánh sáng phát ra từ lõi mặt trời truyền qua tầng khí quyển bao quanh mặt trời, các nguyên tử và ion ở đó sẽ hấp thụ chọn lọc những bước sóng đặc trưng, tạo nên các vạch tối trong dải quang phổ liên tục gọi là các vạch hấp thụ (Hình 36.18). Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy các nguyên tử và ion khác nhau hấp thụ ánh sáng ở những bước sóng khác nhau. Bằng cách đối chiếu các kết quả phòng thí nghiệm này với bước sóng của các vạch hấp thụ trong quang phổ ánh sáng mặt trời, các nhà thiên văn học có thể suy ra thành phần hóa học của khí quyển mặt trời. Kỹ thuật tương tự cũng được dùng để phân tích thành phần hóa học của các thiên hà cách xa hàng triệu năm ánh sáng.

Chú thích:
- Ánh sáng từ kính thiên văn được truyền dọc theo sợi cáp quang (không vẽ trong hình) và đi ra tại đây. (Light from telescope is sent along fiber-optic cables (not shown) and emerges here.)
- Ánh sáng tới gương cầu lõm và phản xạ thành chùm tia song song. (Light strikes concave mirror and emerges as a beam of parallel rays.)
- Ánh sáng đi qua cách tử nhiễu xạ. (Light passes through diffraction grating.)
- Các thấu kính hướng ánh sáng đã nhiễu xạ tới gương cầu lõm thứ hai. (Lenses direct diffracted light onto a second concave mirror.)
- Gương cầu lõm hội tụ ánh sáng về tiêu điểm. (Concave mirror reflects light to a focus.)
- Bộ thu điện tử (tương tự cảm biến trong máy ảnh kỹ thuật số) ghi nhận quang phổ. (An electronic detector (like the one in a digital camera) records the spectrum.)
Hình 36.19 minh họa một thiết kế máy quang phổ cách tử dùng trong thiên văn học. Trong sơ đồ này, người ta sử dụng một (trong các bố trí khác, cách tử phản xạ cũng có thể được sử dụng). Cần lưu ý rằng ánh sáng không chiếu vuông góc với bề mặt cách tử (chiếu xiên), do đó các vị trí cực đại cường độ được xác định bởi một biểu thức có đôi chút khác biệt so với Phương trình (36.13). Trong các thiết kế cũ hơn, người ta sử dụng lăng kính thay cho cách tử và quang phổ được tạo thành nhờ sự chứ không phải nhiễu xạ. Tuy nhiên, giữa bước sóng và góc lệch của lăng kính không có mối liên hệ đơn giản, lăng kính hấp thụ một phần ánh sáng truyền qua, và chúng kém hiệu quả hơn đối với nhiều bước sóng ngoài vùng nhìn thấy vốn rất quan trọng trong thiên văn học. Vì những lý do này cùng nhiều ưu điểm khác, cách tử luôn được ưu tiên lựa chọn trong các ứng dụng đo lường chính xác.
Quy trình hoạt động của thiết bị gồm sáu bước liên kết:
- Ánh sáng từ kính thiên văn được truyền dọc theo sợi cáp quang (không vẽ trong hình) và đi ra tại đây.
- Ánh sáng tới gương cầu lõm và phản xạ thành chùm tia song song.
- Ánh sáng đi qua .
- Các thấu kính hướng ánh sáng đã nhiễu xạ tới gương cầu lõm thứ hai.
- Gương cầu lõm hội tụ ánh sáng về tiêu điểm.
- Bộ thu điện tử (tương tự cảm biến trong máy ảnh kỹ thuật số) ghi nhận quang phổ.
Năng suất phân giải phổ
Trong quang phổ học, việc phân biệt hai bước sóng rất gần nhau
Chẳng hạn, khi các nguyên tử natri bị kích thích nhiệt, chúng phát xạ mạnh ở hai bước sóng màu vàng
(Ta có thể quan sát trực tiếp các bước sóng này khi đun sôi nước có hòa tan muối ăn trên bếp gas: Nếu nước sôi trào vào ngọn lửa, natri hòa tan từ muối sẽ phát ra một luồng sáng màu vàng rực).
Để thiết lập công thức tính năng suất phân giải của cách tử dùng trong máy quang phổ, ta sử dụng tiêu chuẩn phân giải: Hai bước sóng khác nhau cho các cực đại nhiễu xạ ở các góc lệch hơi khác nhau. Như một tiêu chuẩn hợp lý (dù mang tính quy ước), ta giả định rằng có thể phân biệt hai vạch thành hai đỉnh tách rời nếu cực đại của bước sóng này trùng đúng vào cực tiểu đầu tiên liền kề của bước sóng kia.
Theo phân tích ở phần trước, cực đại bậc
Khi
Bây giờ ta cần tìm khoảng cách góc
Theo tiêu chuẩn phân giải của chúng ta, đạt được khi hai khoảng cách góc này bằng nhau. Cân bằng hai biểu thức của đại lượng
Nếu
Số lượng khe
Cảnh báo: Phân biệt các cách dùng ký hiệu d
Cần lưu ý không nhầm lẫn giữa chu kỳ cách tử
Ứng dụng sinh học: Phát hiện ADN bằng hiện tượng nhiễu xạ

được sử dụng trong một thiết bị phòng thí nghiệm phổ biến là máy quang phổ kế (spectrophotometer). Ánh sáng chiếu qua cách tử nhiễu xạ được phân tách thành các bước sóng thành phần. Một khe hẹp được dùng để chặn lại tất cả ngoại trừ một dải bước sóng rất hẹp, tạo ra chùm sáng gần như đơn sắc hoàn hảo. Thiết bị sau đó đo lượng ánh sáng bị hấp thụ bởi một dung dịch chứa các phân tử sinh học. Chẳng hạn, ống mẫu chứa dung dịch ADN vốn trong suốt với ánh sáng nhìn thấy, nhưng hấp thụ rất mạnh ánh sáng tử ngoại có bước sóng chính xác
Câu hỏi tự kiểm tra 36.5
Cần số lượng khe tối thiểu là bao nhiêu trên một cách tử để có thể phân giải được vạch đôi natri ở quang phổ bậc bốn?
- (i) 250
- (ii) 400
- (iii) 1000
- (iv) 4000
Trả lời
Đáp án đúng là (i).
Như đã mô tả trong lý thuyết, cần thiết là
Ở quang phổ bậc một (
(Những con số này chỉ mang tính xấp xỉ do tính chất quy ước của tiêu chuẩn phân giải và do các cách tử trong thực tế luôn có những khiếm khuyết nhỏ về hình dạng cũng như khoảng cách giữa các khe).
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 36.5, trang 1196–1200.