Giao diện
21.6. Đường sức điện
Không nhìn thấy trực tiếp , nhưng có thể biểu diễn hướng của nó bằng các đường tưởng tượng. Đường sức điện là đường hoặc đường cong có tiếp tuyến tại mỗi điểm cùng hướng điện trường ở điểm đó.

Chú thích:
- Đường sức điện (Electric field line)
- Trường tại điểm P (Field at point P)
- Trường tại điểm R (Field at point R)
Hình 21.27:
Khái niệm này tương tự về mặt toán học với chất lưu: Tiếp tuyến đường dòng có hướng vận tốc dòng chảy. Nhưng không có một chất nào đang “chảy” trong . Michael Faraday (1791–1867) đưa ra cách biểu diễn đường sức, ban đầu gọi là đường lực. Cách gọi đường sức trường tránh nhầm đường biểu diễn với lực trên một vật cụ thể.
Hướng trường và mật độ đường sức
Đường sức cho hướng

Chú thích:
- Đường sức luôn đi ra khỏi điện tích dương và hướng vào điện tích âm (Field lines always point away from (+) charges and toward (−) charges)
- Tại mỗi điểm, vector điện trường tiếp tuyến với đường sức đi qua điểm đó (At each point in space, the electric field vector is tangent to the field line passing through that point)
- Đường sức gần nhau ở nơi trường mạnh và xa nhau hơn ở nơi trường yếu (Field lines are close together where the field is strong, farther apart where it is weaker)
- (a) Một điện tích dương đơn lẻ ((a) A single positive charge)
- (b) Hai điện tích bằng nhau, trái dấu, tạo thành lưỡng cực ((b) Two equal and opposite charges (a dipole))
- (c) Hai điện tích dương bằng nhau ((c) Two equal positive charges)
Hình 21.28: (a) Đường sức đi ra khỏi dương đơn lẻ. (b) Hai điện tích bằng nhau và trái dấu tạo đường sức từ dương đến âm. (c) Hai điện tích dương bằng nhau tạo vùng giữa có đường thưa vì trường yếu. Các mũi tên được vẽ ở một số điểm đều tiếp tuyến với đường sức. Những bản đồ phẳng này là mặt cắt của trường trong không gian ba chiều.
Trường tổng tại mỗi điểm nằm theo tiếp tuyến của đường qua điểm đó. Mũi tên trên đường chỉ chiều trường. Độ lớn trường nhìn chung thay đổi ngay trên cùng một đường sức, nên đường sức không phải đường nối các điểm có trường cùng độ lớn.
Đường đi ra từ dương và đi vào điện tích âm. Giữa hai điện tích trái dấu, trường mạnh và đường dày hơn. Giữa hai điện tích dương bằng nhau, trường yếu và đường thưa hơn. Trong đều, các đường thẳng, song song và cách đều, như vùng giữa hai bản dẫn ở Hình 21.20.
Quan sát hướng trường bằng hạt cỏ
Cắm đầu hai dây mang điện trái dấu vào dầu khoáng cách điện rồi rắc hạt cỏ nổi trên dầu. Hạt cỏ trung hòa nhưng bị bởi . Phần dương bị kéo cùng chiều

Chú thích:
- Dây mang điện dương (Positively charged wire)
- Dây mang điện âm (Negatively charged wire)
- Hạt cỏ (Grass seeds)
- Đường sức (Field line)
Hình 21.29: (a) Các đầu dây trái dấu tạo mẫu hạt cỏ tương tự trường lưỡng cực. (b) Hạt cỏ có phần dương và âm bị kéo theo hai chiều, nên quay để trục dài nằm theo hướng đường sức.
Đường sức khác quỹ đạo hạt
Không thể kết luận đang chuyển động sẽ luôn đi theo đường sức. Lực
Mô phỏng thí nghiệm: Thay đổi các nguồn điện tích
Chọn một nguồn dương, hai nguồn cùng dấu hoặc lưỡng cực. Quan sát hướng các trường và cách đường sức thay đổi khi kéo vị trí nguồn. Hãy phân biệt hai phép cộng trường: Hai nguồn trái dấu tăng cường trường ở vùng giữa, còn hai nguồn cùng dấu triệt tiêu trường tại trung điểm đối xứng.
Bài tập: Câu hỏi ôn lại mục 21.6
Nếu đường sức trong một vùng là những đường thẳng và một hạt mang điện được thả từ nghỉ ở đó, quỹ đạo có nằm theo một đường sức không?
Lời giải: Giải thích
Có. Trên đường sức thẳng, và lực lên hạt giữ phương dọc đường. Hạt được thả từ nghỉ nên bắt đầu chuyển động thẳng theo lực, cùng hoặc ngược chiều trường tùy dấu . Vì vậy quỹ đạo nằm dọc đường sức.
Tài liệu tham khảo
Hugh D. Young và Roger A. Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, chương 21, mục 21.6, trang 700–701.