Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Nguyên tử nhiều electron và Pauli

Chủ đề 6 / 8
  1. 1. Phương trình Schrödinger trong ba chiều
  2. 2. Hạt trong hộp ba chiều
  3. 3. Nguyên tử hydro và các số lượng tử
  4. 4. Mômen từ quỹ đạo và hiệu ứng Zeeman
  5. 5. Spin electron và cấu trúc tinh tế
  6. 6. Nguyên tử nhiều electron và Pauli
  7. 7. Phổ tia X đặc trưng
  8. 8. Rối lượng tử và qubit

41.6 Nguyên tử nhiều electron và nguyên lý loại trừ ​

Khi xét các nguyên tử có nhiều hơn một electron (Z>1), bài toán trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với nguyên tử hydro. Bên cạnh lực hút tĩnh điện giữa hạt nhân mang điện tích +Ze và từng electron, ta còn phải tính đến lực đẩy tĩnh điện giữa các electron với nhau. Lực đẩy này làm cho không thể giải chính xác bằng giải tích. Tuy nhiên, bằng các phương pháp gần đúng kết hợp với các nguyên lý lượng tử sâu sắc, ta có thể hiểu được trọn vẹn cấu trúc bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.

Nếu ta bỏ qua hoàn toàn lực tương tác giữa các electron và chỉ xét lực hút Coulomb từ hạt nhân +Ze, mức năng lượng của mỗi electron sẽ có dạng đơn giản:

En=−Z2n2(13,60eV)
(41.43)

Phép gần đúng thô sơ này chỉ chính xác đối với các ion chỉ có một electron duy nhất (như He+, Li2+). Trong các nguyên tử nhiều electron, lực đẩy giữa các electron có độ lớn tương đương với lực hút hạt nhân, do đó ta bắt buộc phải sử dụng các mô hình gần đúng tốt hơn.

Gần đúng trường xuyên tâm ​

Để giải bài toán nguyên tử nhiều electron, phương pháp tiếp cận phổ biến nhất là gần đúng trường xuyên tâm (central-field approximation).

Trong phép gần đúng này:

  1. Ta giả định mỗi electron chuyển động độc lập trong một điện trường có tính đối xứng cầu hiệu dụng.
  2. Điện trường này là tổng hợp của lực hút từ hạt nhân +Ze và lực đẩy trung bình từ đám mây của tất cả các electron còn lại.
  3. Thế năng hiệu dụng U(r) chỉ phụ thuộc vào khoảng cách xuyên tâm r từ electron đến hạt nhân, chứ không phụ thuộc vào các góc định hướng θ và ϕ.

Vì thế năng có tính đối xứng cầu, của mỗi electron vẫn phân tách được thành phần góc và phần bán kính. Các hàm góc giống hệt như trong nguyên tử hydro (các hàm cầu điều hòa). Các giới hạn của đối với hàm sóng một electron trong mô hình trường xuyên tâm hoàn toàn tương tự như nguyên tử hydro:

n≥1,0≤l≤n−1,|ml|≤l,ms=±12
(41.44)

Tuy nhiên, do điện trường hiệu dụng không còn là trường Coulomb thuần túy 1/r, năng lượng của các trạng thái dừng không chỉ phụ thuộc vào số lượng tử chính n mà còn phụ thuộc mạnh mẽ vào số lượng tử obitan l.

Nguyên lý loại trừ Pauli ​

Năm 1925, nhà vật lý người Áo Wolfgang Pauli đã phát biểu một nguyên lý cơ bản chi phối toàn bộ cấu trúc của vật chất:

Nguyên lý loại trừ Pauli

Trong một hệ nguyên tử, không thể có hai electron bất kỳ cùng chiếm một trạng thái lượng tử giống nhau. Nói cách khác, không có hai electron nào có thể có cùng một bộ (n,l,ml,ms).

Nguyên lý này là hệ quả của một định luật cơ bản hơn về các hạt đồng nhất: Electron là các fermion (hạt có spin bán nguyên s=1/2). của một hệ nhiều fermion bắt buộc phải phản đối xứng đối với phép hoán vị vị trí và spin của hai hạt bất kỳ. Nếu hai electron có cùng trạng thái lượng tử, việc hoán vị chúng sẽ làm hàm sóng triệt tiêu đồng nhất bằng không, nghĩa là trạng thái đó không thể tồn tại trong tự nhiên.

Hình 41.20: Wolfgang Pauli và Niels Bohr quan sát một con quay. Nguyên lý loại trừ gắn với tên Pauli giải thích sự lấp đầy các trạng thái electron.
Hình 41.20: Wolfgang Pauli và Niels Bohr quan sát một con quay. Nguyên lý loại trừ gắn với tên Pauli giải thích sự lấp đầy các trạng thái electron.

Vỏ và phân lớp electron ​

Các trạng thái lượng tử trong nguyên tử được nhóm thành các vỏ (shells) và phân lớp (subshells):

  • Vỏ electron: Tập hợp tất cả các trạng thái có cùng số lượng tử chính n. Các vỏ được ký hiệu bằng các chữ cái in hoa: K (n=1), L (n=2), M (n=3), N (n=4), v.v.
  • Phân lớp electron: Tập hợp tất cả các trạng thái trong cùng một vỏ có cùng số lượng tử obitan l. Các phân lớp được ký hiệu bằng chữ cái thường: s (l=0), p (l=1), d (l=2), f (l=3), v.v.

Số trạng thái lượng tử tối đa trong một phân lớp có số lượng tử l:

  • Với mỗi giá trị l, số lượng tử từ ml nhận 2l+1 giá trị nguyên: −l,…,+l.
  • Với mỗi cặp (n,l,ml), số lượng tử từ spin ms nhận 2 giá trị khả dĩ: +1/2 và −1/2.
  • Do đó, số electron tối đa mà một phân lớp có thể chứa là:
Nsubshell=2(2l+1)

Với n=2, hai phân lớp có sức chứa 2+6=8. Với n=3, tổng là 2+6+10=18. Tổng quát, các phân lớp đóng góp lần lượt 2, 6, 10 cho đến 2(2n−1) trạng thái. Viết bằng ký hiệu tổng:

Nshell=∑l=0n−12(2l+1)=2n2

Bảng sau liệt kê đầy đủ các trạng thái lượng tử khả dĩ trong bốn vỏ đầu tiên của nguyên tử:

Bảng 41.2 được trình bày theo từng vỏ dưới đây. Mỗi dòng giữ số lượng tử quỹ đạo, các hình chiếu từ và số trạng thái có kể spin.

Vỏ K ​

Vỏ có n=1 và tổng cộng 2 trạng thái kể spin.

  • Phân lớp 1s có ℓ=0, mℓ=0 và 2 trạng thái.

Vỏ L ​

Vỏ có n=2 và tổng cộng 8 trạng thái kể spin.

  • Phân lớp 2s có ℓ=0, mℓ=0 và 2 trạng thái.
  • Phân lớp 2p có ℓ=1, mℓ=0,±1 và 6 trạng thái.

Vỏ M ​

Vỏ có n=3 và tổng cộng 18 trạng thái kể spin.

  • Phân lớp 3s có ℓ=0, mℓ=0 và 2 trạng thái.
  • Phân lớp 3p có ℓ=1, mℓ=0,±1 và 6 trạng thái.
  • Phân lớp 3d có ℓ=2, mℓ=0,±1,±2 và 10 trạng thái.

Vỏ N ​

Vỏ có n=4 và tổng cộng 32 trạng thái kể spin.

  • Phân lớp 4s có ℓ=0, mℓ=0 và 2 trạng thái.
  • Phân lớp 4p có ℓ=1, mℓ=0,±1 và 6 trạng thái.
  • Phân lớp 4d có ℓ=2, mℓ=0,±1,±2 và 10 trạng thái.
  • Phân lớp 4f có ℓ=3, mℓ=0,±1,±2,±3 và 14 trạng thái.

Hiện tượng che chắn và mức độ thâm nhập ​

Để hiểu tại sao các phân lớp có cùng n lại có năng lượng khác nhau, ta xét hiện tượng che chắn điện tích (screening hay shielding).

Các electron ở gần hạt nhân che chắn một phần điện tích dương +Ze, khiến các electron ở xa hơn chỉ cảm nhận được một :

Zeffe<Ze

Mức năng lượng của electron khi chịu tác dụng che chắn được mô tả xấp xỉ bởi biểu thức:

En=−Zeff2n2(13,60eV)
(41.45)

Phân biệt các công thức tính năng lượng

Ba phương trình sau đều có dạng liên quan đến hệ số (13,60eV)/n2 nhưng áp dụng cho các đối tượng vật lý khác nhau:

  • Năng lượng nguyên tử hydro thuần túy: En=−(13,60eV)/n2.
  • Năng lượng ion một electron với hạt nhân +Ze: En=−Z2(13,60eV)/n2 theo PT (41.43).
  • Năng lượng electron trong nguyên tử nhiều electron có tính đến hiệu ứng che chắn: En=−Zeff2(13,60eV)/n2 theo PT (41.45).

Mức độ che chắn phụ thuộc chặt chẽ vào số lượng tử obitan l:

  • Phân lớp s (l=0): Mật độ xác suất tìm thấy electron tại gốc tọa độ r=0 là khác không. bán kính Rns(r) có các đỉnh phụ nằm rất gần hạt nhân, nghĩa là electron s có mức độ thâm nhập (penetration) sâu vào vùng lân cận hạt nhân. Khi thâm nhập qua lớp vỏ chắn bên trong, nó cảm nhận điện tích hạt nhân gần bằng +Ze, do đó lực hút tĩnh điện mạnh hơn và mức năng lượng sâu hơn (âm hơn).
  • Phân lớp p,d,f (l≥1): Do rào thế ly tâm ℏ2l(l+1)/(2mr2), mật độ xác suất tại r→0 triệt tiêu hoàn toàn. So với trạng thái s cùng n, các trạng thái có mômen lớn thường ít thâm nhập vào vùng electron bên trong hơn. Chúng chịu che chắn mạnh hơn, nên thường có năng lượng cao hơn trong những ví dụ đang xét. Mức độ che chắn không nhất thiết hoàn toàn.

Đối với các trạng thái hóa trị của nguyên tử kim loại kiềm đang xét, mức độ thâm nhập thường dẫn đến thứ tự:

Ens<Enp<End<Enf
Hình 41.21: Sơ đồ phân bố điện tích trong nguyên tử liti minh họa hiệu ứng che chắn của hai electron 1s đối với electron hóa trị 2s.
Hình 41.21: Sơ đồ phân bố điện tích trong nguyên tử liti minh họa hiệu ứng che chắn của hai electron 1s đối với electron hóa trị 2s.
Chú thích:
  • Về trung bình, electron 2s ở xa hạt nhân hơn đáng kể so với các electron 1s. Do đó, nó cảm nhận điện tích hạt nhân hiệu dụng xấp xỉ +3e - 2e = +e (thay vì +3e). (On average, the 2s electron is considerably farther from the nucleus than the 1s electrons. Therefore, it experiences a net nuclear charge of approximately +3e - 2e = +e (rather than +3e).)
  • Hạt nhân (Nucleus)
  • Phân lớp 1s (1s subshell)
  • Phân lớp 2s (2s subshell)
Hình 41.22: Muối ăn tan trong nước làm nước biển có vị mặn. Natri dễ nhường một electron, còn clo dễ nhận một electron. Các ion được giữ trong dung dịch nhờ lực hút với những đầu phân cực của phân tử nước.
Hình 41.22: Muối ăn tan trong nước làm nước biển có vị mặn. Natri dễ nhường một electron, còn clo dễ nhận một electron. Các ion được giữ trong dung dịch nhờ lực hút với những đầu phân cực của phân tử nước.
Ứng dụng: Cấu hình electron và xạ trị ung thư xương bằng đồng vị stronti-89.
Ứng dụng: Cấu hình electron và xạ trị ung thư xương bằng đồng vị stronti-89.

Ứng dụng y sinh: Cấu hình electron và xạ trị ung thư xương

Các đốm màu cam trên ảnh X-quang màu là các khối u ung thư xương. Một phương pháp điều trị ung thư xương là tiêm đồng vị phóng xạ của stronti (89Sr) vào tĩnh mạch bệnh nhân. Stronti có tính chất hóa học tương tự như canxi vì ở cả hai nguyên tử, hai electron ngoài cùng đều ở trạng thái s ( đầy đủ là 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d10 4p6 5s2 đối với stronti và 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 đối với canxi). Do đó, stronti dễ dàng được các khối u hấp thụ, nơi quá trình luân chuyển canxi diễn ra nhanh hơn so với mô xương khỏe mạnh. Bức xạ phát ra từ stronti giúp tiêu diệt các tế bào khối u.

Cấu hình electron ở trạng thái cơ bản ​

Trạng thái cơ bản của nguyên tử được hình thành bằng cách sắp xếp các electron vào các mức năng lượng từ thấp đến cao, tuân thủ và quy tắc Hund:

Quy tắc Hund

Khi điền các electron vào một phân lớp chưa bão hòa, các electron có xu hướng chiếm các obitan khác nhau với chiều spin song song tối đa, nhằm cực tiểu hóa lực đẩy tĩnh điện giữa chúng.

Bảng sau biểu diễn trạng thái cơ bản của 30 nguyên tố đầu tiên trong bảng tuần hoàn (Bảng 41.3):

Bảng 41.3 liệt kê đủ 30 cấu hình. Mỗi ký hiệu phân lớp đi kèm số electron ở số mũ, với số mũ 1 được lược bỏ.

  1. Hydro (H), Z=1. Cấu hình: 1s.
  2. Heli (He), Z=2. Cấu hình: 1s2.
  3. Liti (Li), Z=3. Cấu hình: 1s2 2s.
  4. Beri (Be), Z=4. Cấu hình: 1s2 2s2.
  5. Bo (B), Z=5. Cấu hình: 1s2 2s2 2p.
  6. Carbon (C), Z=6. Cấu hình: 1s2 2s2 2p2.
  7. Nitơ (N), Z=7. Cấu hình: 1s2 2s2 2p3.
  8. Oxy (O), Z=8. Cấu hình: 1s2 2s2 2p4.
  9. Flo (F), Z=9. Cấu hình: 1s2 2s2 2p5.
  10. Neon (Ne), Z=10. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6.
  11. Natri (Na), Z=11. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s.
  12. Magie (Mg), Z=12. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2.
  13. Nhôm (Al), Z=13. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p.
  14. Silic (Si), Z=14. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p2.
  15. Photpho (P), Z=15. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p3.
  16. Lưu huỳnh (S), Z=16. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p4.
  17. Clo (Cl), Z=17. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p5.
  18. Argon (Ar), Z=18. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6.
  19. Kali (K), Z=19. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s.
  20. Canxi (Ca), Z=20. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2.
  21. Scandi (Sc), Z=21. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d.
  22. Titan (Ti), Z=22. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d2.
  23. Vanadi (V), Z=23. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d3.
  24. Crom (Cr), Z=24. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s 3d5.
  25. Mangan (Mn), Z=25. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d5.
  26. Sắt (Fe), Z=26. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d6.
  27. Coban (Co), Z=27. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d7.
  28. Niken (Ni), Z=28. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d8.
  29. Đồng (Cu), Z=29. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s 3d10.
  30. Kẽm (Zn), Z=30. Cấu hình: 1s2 2s2 2p6 3s2 3p6 4s2 3d10.

Ở crom (Z=24) và đồng (Z=29), cấu hình thực nghiệm có dạng đặc biệt: Một electron từ phân lớp 4s chuyển sang phân lớp 3d để tạo thành phân lớp 3d nửa bão hòa (3d5) hoặc bão hòa hoàn toàn (3d10). Cấu trúc đối xứng của các phân lớp này làm giảm lực đẩy Coulomb giữa các electron, mang lại độ bền nhiệt động học cao hơn.

Cấu hình electron và các nhóm nguyên tố ​

Các nguyên tố cùng cột trong bảng tuần hoàn có ngoài cùng tương tự. Khí hiếm gồm heli, neon, argon, krypton, xenon và radon có vỏ đầy hoặc cấu hình kết thúc bằng phân lớp p đầy.

Các kim loại kiềm liti, natri, kali, rubiđi, xesi và franxi có thêm một electron so với cấu hình khí hiếm tương ứng. Các kim loại kiềm thổ beri, magiê, canxi, stronti, bari và radi có thêm hai electron. Các halogen flo, clo, brom, iốt và astatin thiếu một electron để đạt cấu hình khí hiếm kế tiếp.

Argon có các phân lớp từ 1s đến 3p đầy. Ở kali, electron tiếp theo chiếm 4s thay vì 3d, vì mức 4s có năng lượng thấp hơn trong nguyên tử này. Các mức gần nhau làm thứ tự điền electron không chỉ phụ thuộc số lượng tử chính.

Từ scandi, Z=21, đến kẽm, Z=30, số electron trong phân lớp 3d tăng, trong khi phân lớp 4s có một hoặc hai electron. Những nguyên tố này tạo dãy chuyển tiếp thứ nhất với nhiều tính chất hóa học và vật lý gần nhau.

Tình huống tương tự xuất hiện từ Z=57 đến Z=71. Những nguyên tố này có một hoặc hai electron 6s, còn các phân lớp 4f và 5d đang được lấp. Các nguyên tố đất hiếm vì thế có nhiều tính chất gần nhau. Dãy actini với việc lấp các phân lớp bên trong cũng được nhận diện theo cấu trúc electron, với phần dãy đang xét bắt đầu từ Z=91.

Trong mô hình trường xuyên tâm, mức năng lượng phụ thuộc vào cả l lẫn n. Xét ví dụ nguyên tử natri (Z=11): Khi 10 electron lấp đầy các vỏ K và L, năng lượng đo được bằng thực nghiệm của electron còn lại ở các trạng thái khác nhau là:

  • Trạng thái 3s: −5,138eV
  • Trạng thái 3p: −3,035eV
  • Trạng thái 3d: −1,521eV
  • Trạng thái 4s: −1,947eV

Trạng thái 3s có năng lượng thấp nhất (liên kết chặt nhất) vì electron s thâm nhập sâu vào các lớp vỏ K và L, tiếp cận gần hạt nhân +11e và cảm nhận điện tích hiệu dụng lớn hơn. Trạng thái 3d hầu như hoàn toàn nằm ở bên ngoài các lớp vỏ trong, nên Zeff≈1,00 và có năng lượng cao hơn nhiều.

Ví dụ 41.9: Xác định Zeff bằng thực nghiệm ​

Năng lượng đo được của trạng thái 3s trong nguyên tử natri là −5,138eV. Hãy tính giá trị của Zeff.

Nhận dạng bài toán: Natri có duy nhất một electron ở vỏ M bên ngoài các vỏ K và L đã lấp đầy. Mười electron ở vỏ K và L che chắn một phần điện tích +11e của hạt nhân đối với electron vỏ M. Mục tiêu của ta là xác định mức độ che chắn này. Đề bài cho n=3 và En=−5,138eV, vì vậy ta có thể sử dụng PT (41.45) để xác định Zeff.

Chuẩn bị: Giải PT (41.45) để tìm Zeff2:

Zeff2=−n2En13,60eV

Thực hiện: Thay số với n=3 và En=−5,138eV:

Zeff2=−32(−5,138)13,60=3,40

Suy ra Zeff=3,40≈1,84.

Đánh giá: Điện tích hiệu dụng hút electron 3s là 1,84e. Như vậy 11 proton của natri bị che chắn bởi trung bình 11−1,84=9,16 electron thay vì 10 electron, do electron 3s dành một phần thời gian thâm nhập vào các lớp vỏ bên trong (K và L).

Mỗi kim loại kiềm (liti, natri, kali, rubiđi và xesi) đều có nhiều hơn một electron so với khí hiếm tương ứng (heli, neon, argon, krypton và xenon). Electron dư này hầu như nằm ở bên ngoài các electron khác trong các vỏ và phân lớp đã lấp đầy. Do đó, tất cả các kim loại kiềm đều có tính chất hóa học rất giống với natri.

Khái niệm cần nhớ: Khi có một electron hóa trị bên ngoài các vỏ kín, có thể ước lượng năng lượng của nó bằng mô hình một electron với điện tích hiệu dụng. Ta thay Z bằng Zeff trong công thức năng lượng. Sự che chắn của các electron lõi làm Zeff nhỏ hơn Z.

Ví dụ 41.10: Năng lượng của electron hóa trị ​

Electron hóa trị trong kali có trạng thái cơ bản 4s. Hãy tính năng lượng xấp xỉ của trạng thái n=4 có Zeff nhỏ nhất, và thảo luận về năng lượng tương đối của các trạng thái 4s,4p,4d và 4f.

Nhận dạng và chuẩn bị: Trạng thái có Zeff nhỏ nhất là trạng thái mà electron hóa trị dành nhiều thời gian nhất ở bên ngoài các vỏ và phân lớp đầy bên trong, sao cho nó được che chắn hiệu quả nhất khỏi điện tích của hạt nhân. Khi xác định được trạng thái có Zeff nhỏ nhất, ta dùng PT (41.45) để tính năng lượng của trạng thái đó.

Thực hiện: Trạng thái 4f có n=4 và l=3=4−1. Do đó, đây là trạng thái có mômen động lượng obitan lớn nhất đối với n=4, và là trạng thái mà electron dành phần lớn thời gian ở bên ngoài đám mây điện tích electron của các vỏ và phân lớp đầy bên trong. Điều này làm cho Zeff đối với trạng thái 4f rất gần bằng 1. PT (41.45) cho:

E4=−1242(13,60eV)=−0,85eV

Giá trị −0,85eV phù hợp với năng lượng trạng thái 4f của kali ở độ chính xác đang xét.

Một electron ở trạng thái 4d dành thêm một chút thời gian bên trong các vỏ trong, và năng lượng của nó do đó âm hơn một chút (đo được là −0,94eV). Cùng lý do đó, trạng thái 4p có năng lượng còn thấp hơn (đo được là −2,73eV) và trạng thái 4s có năng lượng thấp nhất (đo được là −4,339eV).

Đánh giá: Phân tích này còn áp dụng gần đúng cho các ion Be+, Mg+, Ca+, Sr+ và Ba+. Chúng có một electron bên ngoài các vỏ kín. Khi electron ấy ở trạng thái có ℓ=n−1, điện tích ion lõi gần bằng +2e, nên Zeff≈2. Với Mg+ ở trạng thái 3d, ta được:

E≈−2232(13,60eV)≈−6,0eV

Năng lượng xấp xỉ −6,0eV phản ánh điện tích lõi lớn hơn so với trường hợp kim loại kiềm trung hòa.

Khái niệm cần nhớ: Trong mô hình một electron hóa trị ngoài các vỏ kín, trạng thái có l=n−1 ít xuyên vào vùng electron lõi. Khi sự che chắn gần như hoàn toàn, điện tích hiệu dụng xấp xỉ bằng điện tích ion lõi.

Câu tự kiểm tra 41.6 ​

Nếu các electron không tuân theo nguyên lý loại trừ, việc bứt electron đầu tiên ra khỏi nguyên tử natri sẽ dễ dàng hơn hay khó khăn hơn?

Lời giải chi tiết

Đáp án: Khó khăn hơn.

Lập luận: Nếu không có , toàn bộ 11 electron trong nguyên tử natri sẽ cùng chiếm mức năng lượng thấp nhất (mức 1s) và sẽ là 1s11.

Trong giả thiết này, electron không bị buộc phải chiếm trạng thái hóa trị 3s có năng lượng cao và chịu che chắn mạnh như trong natri thực tế. Việc bứt electron đầu tiên vì thế khó hơn. Không nên hiểu cấu hình giả định 1s11 là không còn lực đẩy hay che chắn giữa các electron.

(Trong nguyên tử natri thực tế, do tuân thủ , chỉ có 2 electron được phép chiếm mức 1s, 8 electron chiếm mức n=2, và electron hóa trị thứ 11 bắt buộc phải nằm ở mức 3s. Electron 3s này bị 10 electron bên trong che chắn hiệu quả nên liên kết rất lỏng lẻo với năng lượng ion hóa chỉ là 5,138eV, khiến natri là một kim loại kiềm hoạt động hóa học rất mạnh).

Tài liệu tham khảo ​

Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 41.6, trang 1385–1392.

Toàn bộ chủ đề của Lecture 21Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to