Giao diện
29.5 Điện trường cảm ứng
Khi dây dẫn chuyển động trong từ trường, lên các điện tích trong dây giải thích được cảm ứng. Nhưng nếu dây đứng yên mà qua nó thay đổi, điều gì đẩy điện tích chạy quanh mạch?
Xét một , mảnh có tiết diện
Nếu điện trở toàn vòng là
Khi điện tích
quanh đường kín khác không, nên không bảo toàn. Không thể gắn cho nó một thế điện vô hướng như với điện trường tĩnh. Với đường tích phân đứng yên, Faraday viết thành:
Dạng
Với đường tròn bán kính
Một vẫn tác dụng lực
Ví dụ 29.11: Điện trường cảm ứng quanh ống dây
Một có
Vòng dây và đồng trục. Đối xứng khiến điện trường tiếp tuyến và có cùng độ lớn trên toàn chu vi, nên dùng (29.8) cho rồi dùng (29.9) cho điện trường.
Đổi tiết diện và bán kính sang đơn vị SI:
Với
Độ lớn là
Trong hình, hướng vào mặt trang đang tăng. Theo quy ước chiều dương của hình, âm nên dòng cảm ứng chạy ngược chiều kim đồng hồ. Có thể suy ra cùng chiều bằng : Dòng cảm ứng tạo từ trường chống lại phần từ thông đang tăng.

Chú thích:
- Ống dây (Solenoid)
- Vòng dây (Wire loop)
- Điện kế (Galvanometer)
- Hình trụ màu xanh biểu thị vùng có từ trường B (Blue cylinder shows region with magnetic field B.)
có nhiều ứng dụng. Khi xe điện giảm tốc, bánh xe vẫn quay động cơ theo chiều máy phát, tạo dòng nạp lại pin. Trục khuỷu của động cơ piston trên máy bay quay nam châm, làm xuất hiện trong cuộn dây bên cạnh và tạo tia lửa đốt nhiên liệu. Cơ chế này giúp động cơ tiếp tục chạy khi các hệ thống điện khác của máy bay hỏng.
Bộ thu tín hiệu của guitar điện cảm ứng dòng trong cuộn dây đứng yên khi dây đàn sắt từ rung. Máy phát điện xoay chiều trên ô tô cũng dùng nam châm quay để tạo dòng trong các cuộn dây đứng yên.

Chú thích:
- Taxi điện (TAXI ELECTRIC)
Tự kiểm 29.5
Nếu lắc một nam châm qua lại bằng tay, ta có tạo ra điện trường không? Nếu có, điện trường ấy có bảo toàn không?
Lời giải
Có. Tại mỗi vị trí cố định, từ trường thay đổi khi nam châm chuyển động. biến thiên tạo , và điện trường đó không bảo toàn.
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 29.5, trang 967–969.