Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Hoạt độ và chu kỳ bán rã

Chủ đề 4 / 8
  1. 1. Các tính chất của hạt nhân
  2. 2. Năng lượng liên kết và cấu trúc hạt nhân
  3. 3. Độ bền và các dạng phóng xạ
  4. 4. Hoạt độ và chu kỳ bán rã
  5. 5. Tác dụng sinh học và ứng dụng của bức xạ
  6. 6. Năng lượng và ngưỡng phản ứng hạt nhân
  7. 7. Phân hạch và phản ứng dây chuyền
  8. 8. Nhiệt hạch và năng lượng của các sao

43.4 Hoạt độ và chu kỳ bán rã ​

Khi khảo sát một lượng xác định các hạt nhân thuộc một phóng xạ cụ thể, nếu không có thêm hạt nhân mới nào được sinh ra, số lượng hạt nhân chưa phân rã sẽ giảm dần theo thời gian. Sự sụt giảm này tuân theo quy luật thống kê: Không có cách nào dự đoán chính xác thời điểm một hạt nhân cụ thể sẽ phân rã. Hơn nữa, những thay đổi về môi trường vật lý hay hóa học xung quanh, chẳng hạn như phản ứng hóa học, đốt nóng hay làm lạnh, đều không gây ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ phân rã. Tốc độ này biến thiên trong một dải rất rộng giữa các đồng vị khác nhau.

Tốc độ phân rã phóng xạ ​

Gọi N(t) là số lượng hạt nhân phóng xạ rất lớn có trong mẫu tại thời điểm t, và gọi dN(t) là biến thiên của số hạt nhân đó trong khoảng thời gian ngắn dt. Vì số hạt nhân giảm dần theo thời gian, đại lượng dN(t) luôn nhận giá trị âm. Ký hiệu N(t) được dùng để phân biệt rõ với số neutron N của hạt nhân.

Số phân rã diễn ra trong khoảng thời gian dt là −dN(t). Tốc độ biến thiên tức thời của N(t) là dN(t)/dt, mang giá trị âm. Do đó, lượng đại số −dN(t)/dt được định nghĩa là tốc độ phân rã hay hoạt độ (activity) của mẫu. Khi số lượng hạt nhân trong mẫu càng nhiều, số phân rã xảy ra trong mỗi đơn vị thời gian càng lớn. tỉ lệ thuận trực tiếp với số hạt nhân N(t) hiện diện ở thời điểm khảo sát, liên hệ qua một hằng số tỉ lệ λ:

−dN(t)dt=λN(t)
(43.16)

Hằng số λ được gọi là hằng số phân rã (decay constant), mang giá trị đặc trưng riêng biệt cho từng phóng xạ. Giá trị λ lớn tương ứng với quá trình phân rã diễn ra nhanh, còn giá trị λ nhỏ tương ứng với quá trình phân rã chậm. Biến đổi phương trình trên cho thấy λ chính là tỉ số giữa số phân rã trong một đơn vị thời gian và số hạt nhân phóng xạ còn lại. Về mặt ý nghĩa xác suất: Hằng số phân rã λ biểu thị xác suất trên mỗi đơn vị thời gian để một hạt nhân bất kỳ phân rã.

Dạng toán học của phương trình vi phân này hoàn toàn tương tự bài toán phóng điện của tụ điện qua điện trở. hai vế từ thời điểm ban đầu t=0 với số hạt nhân ban đầu N(0)=N0, quy luật suy giảm số hạt nhân theo thời gian có dạng:

N(t)=N0e−λt
(43.17)

Hàm số này mô tả đường cong suy giảm theo hàm mũ. Do hoạt độ tại mỗi thời điểm luôn tỉ lệ thuận với số hạt nhân, −dN(t)/dt=λN(t), phóng xạ cũng suy giảm theo hàm mũ cùng dạng với số hạt nhân.

T1/2 là khoảng thời gian cần thiết để số lượng hạt nhân phóng xạ giảm đi một nửa so với lượng ban đầu N0. Sau mỗi khoảng thời gian T1/2 kế tiếp, một nửa số hạt nhân còn lại sẽ tiếp tục phân rã. Số hạt nhân còn lại sau các chu kỳ bán rã liên tiếp lần lượt là N0/2, N0/4, N0/8, và cứ tiếp tục như vậy.

Thiết lập tỉ số N(t)/N0=1/2 tại thời điểm t=T1/2 trong phương trình suy giảm hàm mũ, ta thu được:

12=e−λT1/2

Lấy logarit tự nhiên hai vế và giải ra :

T1/2=ln⁡2λ=0,693λ
(43.18)

Tmean, thường gọi ngắn gọn là thời gian sống (lifetime), của một hạt nhân hay một hạt không bền là khoảng thời gian để số hạt nhân giảm đi e lần, tức giảm còn 1/e giá trị ban đầu. Đại lượng này tỉ lệ thuận với :

Tmean=1λ=T1/2ln⁡2
(43.19)

Với ln⁡2≈0,693, ta có biểu thức tính gần đúng:

Tmean≈T1/20,693

Trong vật lý hạt cơ bản, tuổi thọ của một hạt không bền thường được mô tả thông qua thay vì .

Do hoạt độ −dN(t)/dt tại mọi thời điểm bằng λN(t), hoạt độ cũng biến thiên theo hàm số thời gian dưới dạng e−λt. Sau mỗi , giảm còn một nửa, một phần tư, một phần tám so với hoạt độ ban đầu.

::: Info Lưu ý: Một chưa thể đảm bảo mức an toàn Đôi khi xuất hiện quan niệm chưa chính xác cho rằng mọi mẫu phóng xạ đều trở nên an toàn sau khi trải qua một chu kỳ bán rã. Nếu một lượng chất thải phóng xạ ban đầu có hoạt độ cao gấp 10 lần ngưỡng an toàn cho phép, sau một chu kỳ bán rã hoạt độ giảm một nửa nhưng vẫn còn vượt ngưỡng an toàn tới 5 lần. Thậm chí sau ba chu kỳ bán rã, mẫu vẫn còn 12,5% lượng phóng xạ ban đầu, tức vẫn cao hơn ngưỡng an toàn 25%. Số hạt nhân phóng xạ và hoạt độ chỉ tiến dần về 0 khi thời gian tiến ra vô hạn. :::

Một đơn vị phổ biến thường dùng để đo hoạt độ là curie, ký hiệu là Ci, được định nghĩa bằng đúng 3,70×1010 phân rã/giây. Giá trị này xấp xỉ bằng hoạt độ của một gam radium-226. Trong hệ đơn vị quốc tế SI, đơn vị của hoạt độ là becquerel, ký hiệu là Bq. Một becquerel tương ứng với một phân rã trên mỗi giây:

1 Bq=1 phân rã/s

Mối liên hệ giữa hai đơn vị đo:

1 Ci=3,70×1010 Bq

Ví dụ 43.8: Hoạt độ của đồng vị cobalt-57 ​

57Co phân rã bằng cơ chế thành đồng vị 57Fe với là 272 ngày. Hạt nhân 57Fe được tạo ra ở trạng thái kích thích, và gần như tức thời phát ra tia gamma mà đầu dò có thể phát hiện được.

a) Tìm và hằng số phân rã của 57Co.

b) Nếu hoạt độ của nguồn phát bức xạ 57Co hiện tại là 2,00 μCi, nguồn này chứa bao nhiêu hạt nhân 57Co?

c) Hoạt độ của nguồn sau 1 năm là bao nhiêu?

Bài giải ​

Xác định và Thiết lập: Bài toán sử dụng mối liên hệ giữa hằng số phân rã λ, Tmean, T1/2, và hoạt độ −dN(t)/dt. Trong phần (a), ta đổi chu kỳ bán rã sang giây rồi tính λ và Tmean. Trong phần (b), số hạt nhân N(t) được tính từ hoạt độ qua hệ thức hoạt độ tức thời. Trong phần (c), số hạt nhân còn lại và hoạt độ sau thời gian 1 năm được xác định qua định luật phân rã hàm mũ.

Thực hiện:

A) Đổi từ đơn vị ngày sang đơn vị giây:

T1/2=(272)(86400 s)

Kết quả tính toán:

T1/2=2,35×107 s

và hằng số phân rã được xác định qua :

Tmean=T1/2ln⁡2

Thay số với T1/2=2,35008×107 s:

Tmean=3,39×107 s

Đổi ra đơn vị ngày:

Tmean=392 ngày

Hằng số phân rã là nghịch đảo của :

λ=1Tmean

Thay giá trị thu được:

λ=2,95×10−8 s−1

b) Hoạt độ đã cho của nguồn là 2,00 μCi, đổi sang đơn vị phân rã trên giây:

−dN(t)dt=2,00 μCi

Quy đổi về đơn vị becquerel:

−dN(t)dt=7,40×104 Bq

Vì hoạt độ liên hệ với số hạt nhân qua phương trình −dN(t)/dt=λN(t), số hạt nhân hiện có trong nguồn là:

N(t)=−dN(t)/dtλ

Thay số với hoạt độ và hằng số phân rã đã biết, ta thu được:

N(t)=2,51×1012

Như vậy nguồn chứa 2,51×1012 hạt nhân 57Co.

c) Một năm chuẩn quy ước có t=3,156×107 s. Tích số mũ có giá trị −λt=−0,931. Tỉ số giữa số hạt nhân còn lại tại thời điểm t=1 năm và số hạt nhân ban đầu là:

N(t)N0=e−λt

Tính lũy thừa với số mũ −λt=−0,931:

N(t)N0=0,394

Số hạt nhân đã giảm còn 0,394 lần giá trị ban đầu. Do hoạt độ tỉ lệ thuận với số hạt nhân, hoạt độ của nguồn sau 1 năm cũng giảm theo đúng hệ số này:

A=0,394×2,00 μCi

Kết quả hoạt độ sau 1 năm:

A=0,788 μCi

Đánh giá: Số hạt nhân tìm được ở phần (b) tương đương với 4,17×10−12 mol, ứng với khối lượng chỉ 2,38×10−10 g. Đây là khối lượng nhỏ hơn rất nhiều so với giới hạn đo của các cân phân tích nhạy nhất. Sau một 272 ngày, số hạt nhân giảm còn N0/2, và sau hai chu kỳ bán rã tức 544 ngày, số hạt nhân giảm còn N0/4. Kết quả phần (c) cho thấy sau 365 ngày, số hạt nhân còn lại nằm giữa N0/2 và N0/4, hoàn toàn nhất quán với dự đoán định tính.

Khái niệm quan trọng: Vì quá trình là một hiện tượng thống kê, cả số hạt nhân phóng xạ N(t) lẫn hoạt độ −dN(t)/dt của mẫu đều suy giảm theo hàm mũ theo thời gian. Cả N(t) và −dN(t)/dt đều giảm đi một nửa sau mỗi , và giảm đi e lần sau mỗi khoảng .

Định tuổi bằng đồng vị phóng xạ ​

Một ứng dụng quan trọng của hiện tượng phóng xạ là định tuổi các mẫu khảo cổ và địa chất bằng cách đo nồng độ phóng xạ. Ví dụ quen thuộc nhất là phương pháp định tuổi bằng carbon phóng xạ. Đồng vị không bền 14C được tạo ra liên tục trong khí quyển nhờ các phản ứng hạt nhân do tia vũ trụ bắn phá, tạo nên một tỉ lệ nhỏ 14C ổn định trong lượng CO2 của khí quyển. Thực vật hấp thụ carbon từ nguồn này qua quang hợp, duy trì tỉ lệ 14C giống như trong khí quyển. Khi sinh vật chết đi, quá trình trao đổi chất ngừng lại, lượng 14C tồn đọng phân rã β− thành 14N với 5730 năm. Bằng cách đo tỉ lệ 14C còn lại trong di tích sinh vật, ta có thể xác định sinh vật đó đã chết cách đây bao lâu.

Một khó khăn của phương pháp định tuổi bằng carbon là nồng độ 14C trong khí quyển có biến động nhỏ qua các thời kỳ địa chất dài. Việc hiệu chỉnh được thực hiện dựa trên các dữ liệu độc lập khác, chẳng hạn như số đo vòng sinh trưởng hàng năm của thân cây cổ thụ. Các kỹ thuật phóng xạ tương tự cũng được áp dụng với khác để định tuổi mẫu địa chất. Một số loại đá chứa đồng vị phóng xạ potassium 40K, có tổng cộng 1,248×109 năm. Trong đó, một nhánh phân rã ( và phân rã β+ với tỉ lệ khoảng 10,7%) biến đổi 40K thành đồng vị khí argon bền 40Ar. Trong khi đó, nhánh phân rã β− chính tạo thành 40Ca. Tuổi của mẫu đá địa chất được xác định bằng phương pháp định tuổi kali - agon thông qua việc đo tỉ số giữa nồng độ 40Ar tích tụ trong cấu trúc tinh thể đá và lượng 40K còn lại.

Ví dụ 43.9: Định tuổi bằng carbon phóng xạ ​

Trước năm 1900, hoạt độ trên mỗi đơn vị khối lượng của carbon trong khí quyển do sự hiện diện của 14C đạt giá trị trung bình khoảng 0,255 Bq trên mỗi gam carbon.

a) Tỉ lệ phần trăm số nguyên tử carbon là 14C trong khí quyển trước năm 1900 là bao nhiêu?

b) Khi phân tích một mẫu khảo cổ chứa 500 mg carbon, người ta ghi nhận được 174 phân rã trong thời gian 1 giờ. Giả sử hoạt độ trên mỗi gam carbon lúc sinh vật chết bằng giá trị trung bình của khí quyển nói trên, tuổi của mẫu vật là bao nhiêu?

Bài giải ​

Xác định và Thiết lập: Ý tưởng quan trọng là hoạt độ hiện tại của một mẫu sinh học chứa 14C liên hệ trực tiếp với khoảng thời gian đã trôi qua kể từ khi sinh vật ngừng hấp thụ carbon từ khí quyển và hoạt độ ban đầu tại thời điểm đó. Trong phần (a), ta tìm số hạt nhân 14C từ hoạt độ riêng của 1 gam carbon bằng hằng số phân rã λ, rồi so sánh với tổng số nguyên tử carbon trong 1 gam dựa vào khối lượng mol trung bình của carbon (12,011 g/mol). Trong phần (b), ta tính hoạt độ ban đầu của 500 mg carbon, xác định tỉ số hoạt độ hiện tại so với ban đầu, rồi giải phương trình suy giảm hàm mũ để tìm thời gian t.

Thực hiện:

A) Đổi T1/2=5730 năm sang đơn vị giây, với 1 năm=3,156×107 s:

T1/2=1,808×1011 s

Hằng số phân rã của carbon-14 là:

λ=ln⁡2T1/2

Thay giá trị bằng giây:

λ=3,83×10−12 s−1

Số hạt nhân 14C có trong 1 gam carbon được xác định từ hoạt độ 0,255 Bq=0,255 s−1:

N(t)=−dN/dtλ

Thực hiện phép tính, số hạt nhân 14C có trong 1 gam là:

N(t)=6,65×1010

Tổng số nguyên tử carbon trong 1 gam (ứng với 1/12,011 mol) là:

Ntổng=NA12,011

Thay hằng số Avogadro NA=6,022×1023 mol−1, ta thu được:

Ntổng=5,01×1022

Tỉ số giữa số nguyên tử 14C và tổng số nguyên tử carbon là:

N(14C)Ntổng=6,65×10105,01×1022

Tỉ số thu được:

N(14C)Ntổng=1,33×10−12

Chỉ có khoảng 4 nguyên tử carbon-14 trong mỗi 3×1012 nguyên tử carbon.

b) Hoạt độ trên mỗi gam carbon tại thời điểm sinh vật chết (t=0) là a0=0,255 Bq/g. Đổi ra đơn vị phân rã trên giờ với 3600 s/h:

a0=918 h−1⋅g−1

Hoạt độ ban đầu của lượng m=0,500 g carbon trong mẫu là:

A0=ma0

Thay số tính toán:

A0=459 h−1

Hoạt độ quan sát được hiện tại là A(t)=174 h−1. Vì hoạt độ tỉ lệ thuận với số hạt nhân phóng xạ, tỉ số hoạt độ bằng đúng tỉ số số lượng hạt nhân:

N(t)N0=174459

Giá trị tỉ số:

N(t)N0=0,379

Giải phương trình N(t)=N0e−λt để tìm tuổi t của mẫu vật:

t=−ln⁡(N(t)/N0)λ

Thay số với ln⁡(0,379)=−0,9702:

t=2,53×1011 s

Đổi thời gian từ đơn vị giây sang đơn vị năm:

t=8020 năm

Đánh giá: Sau 8020 năm, hoạt độ của 14C đã giảm từ 459 xuống còn 174 phân rã mỗi giờ. Sinh vật này đã chết và ngừng trao đổi khí CO2 với khí quyển cách đây khoảng 8000 năm.

Khái niệm quan trọng: Để định tuổi một mẫu vật bằng phương pháp phóng xạ, người ta đo hoạt độ hiện tại của mẫu và xác định đó tại thời điểm hình thành. Tuổi của mẫu tỉ lệ thuận với logarit tự nhiên của tỉ số giữa hai hoạt độ này.

Nguy cơ bức xạ trong nhà ở ​

Một mối nguy hiểm cho sức khỏe tại một số khu vực dân cư là sự tích tụ khí radon 222Rn trong các ngôi nhà. Đây là một chất khí phóng xạ trơ, không màu, không mùi. của 222Rn trong chuỗi phân rã của 238U chỉ là 3,82 ngày. Mặc dù chu kỳ bán rã ngắn, khí radon không tự biến mất hoàn toàn khỏi ngôi nhà vì nó liên tục được sinh ra từ sự phân rã của 226Ra, một nguyên tố hiện diện với lượng vết trong đất đá nền nhà. Đây là một trạng thái cân bằng động, trong đó tốc độ sinh ra bằng đúng tốc độ phân rã.

Lý do khiến 222Rn gây nguy hiểm lớn hơn khác trong chuỗi phân rã là vì nó tồn tại ở thể khí. Trong suốt 3,82 ngày, khí radon có thể khuếch tán từ lòng đất xâm nhập vào nhà ở. Khi một hạt nhân 222Rn phân rã trong phổi, nó phát ra một hạt α gây tổn thương tế bào và tạo thành hạt nhân con polonium 218Po. Hạt nhân con này là một chất rắn hoạt động hóa học, có xu hướng bám lại trên mô phổi cho đến khi tiếp tục phân rã, giải phóng thêm các hạt α tiếp theo trong chuỗi phân rã 238U.

Để so sánh hoạt độ thể tích với tác động lâu dài, xét bộ ước lượng phơi nhiễm radon sau. Mặc dù có những khu vực ghi nhận mức cá biệt lên tới 3500 pCi/L, giá trị hoạt độ thể tích trung bình dùng trong phép so sánh của 222Rn trong không khí nhà ở tại Mỹ vào khoảng 1,5 pCi/L (tương đương hơn một nghìn phân rã mỗi giây trong một căn phòng có kích thước trung bình). Phơi nhiễm liên tục suốt đời ở mức độ này được ước tính có thể làm giảm tuổi thọ khoảng 40 ngày. Để so sánh đối chứng: Hút một bao thuốc lá mỗi ngày làm giảm tuổi thọ khoảng 6 năm. Trong khi đó, lượng phát thải trung bình từ tất cả các nhà máy điện hạt nhân trên toàn cầu ước tính làm giảm tuổi thọ trong khoảng từ 0,01 đến 5 ngày (đã tính cả những thảm họa lớn như Chernobyl năm 1986 và Fukushima năm 2011).

Kiểm tra hiểu biết 43.4 ​

Mẫu nào sau đây chứa số lượng hạt nhân lớn hơn: Mẫu 240Pu có hoạt độ 5,00 μCi ( 6560 năm) hay mẫu 243Am có hoạt độ 4,45 μCi (chu kỳ bán rã 7370 năm)?

(i) Mẫu 240Pu.

(ii) Mẫu 243Am.

(iii) Cả hai mẫu đều chứa số lượng hạt nhân bằng nhau.

::: Details Giải thích Đáp án đúng: (iii).

Hoạt độ −dN(t)/dt của một mẫu phóng xạ là tích của số hạt nhân N(t) và hằng số phân rã λ=(ln⁡2)/T1/2. Do đó, số hạt nhân có trong mẫu là:

N(t)=−dN(t)/dtln⁡2T1/2

Lập tỉ số giữa số hạt nhân của 240Pu và 243Am, thừa số ln⁡2 bị triệt tiêu:

NPuNAm=APuT1/2,PuAAmT1/2,Am

Thay các giá trị hoạt độ và vào tỉ số:

NPuNAm=(5,00)(6560)(4,45)(7370)

Tích ở tử số là 5,00×6560=32800, tích ở mẫu số là 4,45×7370=32796,5. Tỉ số thu được trong phạm vi độ chính xác ba chữ số có nghĩa đã cho là:

NPuNAm=1,00

Hai mẫu chứa số lượng hạt nhân bằng nhau trong phạm vi độ chính xác đã cho (1,00). Vì 243Am có dài hơn nên tốc độ phân rã chậm hơn. Điều này dẫn đến hoạt độ đo được nhỏ hơn so với mẫu 240Pu. :::

Tài liệu tham khảo ​

Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 43.4, trang 1459–1463.

Toàn bộ chủ đề của Lecture 23Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to