Giao diện
42.4. Dải năng lượng
Khái niệm (energy bands), được nhà vật lý Felix Bloch đề xuất lần đầu tiên vào năm 1928 (Hình 42.17), là chiếc chìa khóa vạn năng giúp vật lý lượng tử giải thích một trong những bí ẩn lớn nhất của vật chất: Tại sao cùng được cấu tạo từ các nguyên tử trung hòa có proton và electron, nhưng một số chất rắn (như đồng hay nhôm) lại dẫn điện tuyệt vời, trong khi một số chất khác (như thạch anh hay kim cương) lại cách điện gần như hoàn hảo, và một nhóm thứ ba (như silic hay germani) lại có tính chất bán dẫn độc đáo làm thay đổi toàn bộ nền văn minh công nghệ hiện đại?

Cơ học cổ điển hoàn toàn không thể giải thích sự chênh lệch độ dẫn điện lên tới
Nguồn gốc của các dải năng lượng
Để hiểu bản chất của , hãy tưởng tượng một hệ gồm một số lượng rất lớn
- Khi các nguyên tử ở cách rất xa nhau, tương tác giữa chúng hoàn toàn không đáng kể. Mọi nguyên tử đều sở hữu cùng một tập hợp các mức năng lượng nguyên tử gián đoạn giống hệt nhau. Khi đó, mỗi mức năng lượng của toàn hệ bị suy biến bậc
(nghĩa là có trạng thái lượng tử độc lập cùng mang một giá trị năng lượng). - Khi đưa
nguyên tử lại gần nhau để hình thành một ở khoảng cách cân bằng , các đám mây electron ở các lớp vỏ ngoài của các nguyên tử lân cận bắt đầu xen phủ mạnh mẽ.
Theo , không thể có hai electron nào cùng tồn tại trong cùng một trạng thái lượng tử toàn phần. Tương tác xen phủ giữa các nguyên tử giải phóng sự suy biến ban đầu: Mỗi mức năng lượng nguyên tử cô lập bị tách thành đúng
Với số nguyên tử vĩ mô rất lớn, các mức nằm sát nhau. Trong các phép tính không phân giải từng mức riêng lẻ, có thể xem tập mức ấy như một phân bố năng lượng gần liên tục trong một .

Chú thích:
- Khoảng cách thực tế giữa các nguyên tử trong tinh thể (Actual separation of atoms in the crystal)
Độ rộng của mỗi phụ thuộc vào mức độ xen phủ của electron giữa các nguyên tử lân cận:
- Các electron ở lớp vỏ trong cùng (như phân lớp
của natri) bị liên kết rất chặt với hạt nhân của riêng mình, của chúng hầu như không xen phủ với nguyên tử bên cạnh, nên mức năng lượng của chúng gần như không bị tách mức và vẫn giữ nguyên dạng các mức hẹp. - Trái lại, các electron hóa trị ở lớp vỏ ngoài cùng (như phân lớp
của natri) có trải rộng và xen phủ rất mạnh với các nguyên tử lân cận, tạo nên các có độ rộng lớn, điển hình từ vài electron-volt đến hàng chục electron-volt. - Khoảng cách năng lượng nằm giữa hai liên tiếp, nơi hoàn toàn không có bất kỳ trạng thái lượng tử nào tồn tại, được gọi là vùng cấm (energy gap hay band gap, ký hiệu là
).
Cấu trúc dải: Dải hóa trị và dải dẫn
Ở nhiệt độ không độ tuyệt đối (
- Dải hóa trị (Valence band): Là cao nhất bị chiếm đóng bởi các electron hóa trị ở trạng thái cơ bản.
- Dải dẫn (Conduction band): Là cho phép tiếp theo nằm ngay phía trên dải hóa trị, ngăn cách với dải hóa trị bởi vùng cấm
.
Dựa vào cấu trúc và mức độ lấp đầy electron ở

Chú thích:
- (a) Ở chất cách điện tại không độ tuyệt đối, không có electron nào trong dải dẫn. ((a) In an insulator at absolute zero, there are no electrons in the conduction band.)
- (b) Chất bán dẫn có cấu trúc dải tương tự chất cách điện nhưng vùng cấm giữa dải hóa trị và dải dẫn hẹp hơn. ((b) A semiconductor has the same band structure as an insulator but a smaller gap between the valence and conduction bands.)
- (c) Chất dẫn điện có dải dẫn được lấp đầy một phần. ((c) A conductor has a partially filled conduction band.)
- Dải dẫn trống (Empty conduction band)
- Vùng cấm năng lượng lớn Eg (Large energy gap Eg)
- Dải hóa trị đầy (Filled valence band)
- Vùng cấm năng lượng nhỏ (Small energy gap)
- Dải dẫn đầy một phần (Partially filled conduction band)
- Vùng cấm năng lượng (Energy gap)
Chất cách điện, chất bán dẫn và chất dẫn điện
Chất cách điện (Insulator):
- Dải hóa trị bị lấp đầy hoàn toàn bởi các electron, trong khi dải dẫn ở phía trên hoàn toàn trống rỗng (Hình 42.19a).
- Vùng cấm
giữa dải hóa trị và dải dẫn rất rộng, thường lớn hơn (chẳng hạn kim cương có ). - Để có dòng điện chạy qua, các electron phải nhận thêm động năng từ ngoài để chuyển lên các trạng thái lượng tử có năng lượng cao hơn. Tuy nhiên, trong dải hóa trị đã đầy ắp, mọi trạng thái lượng tử lân cận đều đã có electron chiếm giữ ( không cho phép nhận thêm). Cách duy nhất để electron di chuyển tự do là nhảy vọt qua vùng cấm để lên dải dẫn. Vì vùng cấm quá lớn, năng lượng nhiệt ở nhiệt độ phòng (
) và điện trường thông thường hoàn toàn không đủ để đưa electron vượt qua ranh giới này. Do đó, vật liệu hoàn toàn không có hạt tải điện tự do và cách điện tuyệt đối.
Chất bán dẫn (Semiconductor):
- Có cấu trúc dải tương tự như chất cách điện, nhưng vùng cấm
hẹp hơn rất nhiều, thường nằm trong khoảng từ đến (ví dụ silic có , germani có ). - Ở nhiệt độ không độ tuyệt đối (
), dải dẫn hoàn toàn trống rỗng và dải hóa trị đầy, do đó chất bán dẫn là chất cách điện hoàn hảo. - Khi nhiệt độ tăng lên nhiệt độ phòng (
), chuyển động nhiệt cung cấp đủ năng lượng cho một tỷ lệ nhỏ các electron ở đỉnh dải hóa trị nhảy qua vùng cấm hẹp lên đáy dải dẫn (Hình 42.19b). Các electron này trở thành các electron dẫn tự do chuyển động trong dải dẫn. Đồng thời, sự dịch chuyển này để lại các trạng thái lượng tử trống trong dải hóa trị, gọi là các (holes). Lỗ trống hành xử như một hạt mang điện tích dương và cũng tự do di chuyển trong dải hóa trị, đóng góp vào độ dẫn điện của vật liệu.
- Có cấu trúc dải tương tự như chất cách điện, nhưng vùng cấm
Chất dẫn điện (Kim loại - Conductor):
- Dải dẫn được lấp đầy một phần ngay từ
(Hình 42.19c), hoặc dải hóa trị đầy xen phủ một phần với một dải dẫn trống nằm phía trên. - Một ví dụ tiêu biểu là natri (
). Mỗi nguyên tử natri đóng góp một electron . Vì phân lớp có thể chứa tối đa 2 electron trên mỗi nguyên tử, nên đối với một tinh thể gồm nguyên tử, dải gồm trạng thái lượng tử nhưng chỉ có electron, tức là dải chỉ được lấp đầy đúng một nửa. - Ngay phía trên các electron có mức năng lượng cao nhất là vô số trạng thái lượng tử trống nằm kề cận (
). Khi đặt một dù rất yếu vào kim loại, các electron dễ dàng nhận năng lượng để chuyển lên các trạng thái trống lân cận và chuyển động có hướng ngược chiều điện trường, tạo thành dòng điện lớn.
- Dải dẫn được lấp đầy một phần ngay từ
Sự phụ thuộc của điện trở suất vào nhiệt độ
Cấu trúc giải thích sâu sắc sự khác biệt hoàn toàn về tính chất nhiệt điện giữa kim loại và chất bán dẫn:
- Ở kim loại (Chất dẫn điện): Mật độ electron tự do rất lớn (cỡ
) và hầu như không thay đổi theo nhiệt độ. Khi nhiệt độ tăng, các ion ở nút dao động nhiệt mạnh hơn quanh vị trí cân bằng, làm tăng tiết diện tán xạ va chạm đối với các electron chuyển động. Thời gian hồi phục trung bình giữa hai va chạm giảm đi, dẫn đến độ dẫn điện giảm và điện trở suất tăng tuyến tính theo nhiệt độ:
- Ở chất bán dẫn: Khi nhiệt độ tăng, dao động nhiệt của cũng tăng, nhưng hiệu ứng này bị áp đảo hoàn toàn bởi sự bùng nổ của mật độ hạt tải điện. Xác suất để một electron nhận đủ năng lượng nhiệt vượt qua vùng cấm
tỷ lệ với thừa số Boltzmann . Do đó, mật độ hạt tải điện (cả electron và ) tăng vọt theo hàm số mũ khi nhiệt độ tăng. Kết quả là điện trở suất của chất bán dẫn giảm rất mạnh khi nhiệt độ tăng, thể hiện hệ số nhiệt điện trở âm rất lớn.
Đặc tính điện trở suất giảm mạnh theo nhiệt độ được khai thác để chế tạo các cảm biến nhiệt điện trở (thermistor), có độ nhạy vượt trội so với nhiệt kế kim loại truyền thống.
Ví dụ 42.5: Hiện tượng quang dẫn trong germani
Ở nhiệt độ phòng, germani tinh khiết (
Nhận diện và thiết lập: Độ dẫn điện của chất bán dẫn tăng mạnh khi các electron từ dải hóa trị hấp thụ năng lượng của để nhảy vọt qua vùng cấm lên dải dẫn. Trong germani, sự kích thích này đòi hỏi năng lượng photon hấp thụ tối thiểu phải bằng đúng :
Theo hệ thức Planck–Einstein
Thực hiện: Bước sóng cực đại của có năng lượng
Thay các giá trị hằng số
tương đương
Đánh giá: Bước sóng giới hạn
Khái niệm cốt lõi: Vùng cấm và tính quang dẫn
Trong chất bán dẫn, dải hóa trị chứa đầy electron được ngăn cách với dải dẫn trống bởi một vùng cấm hẹp
Câu tự kiểm tra 42.4
Một loại nhiệt kế hoạt động bằng cách đo điện trở suất phụ thuộc vào nhiệt độ của một mẫu vật liệu. Loại vật liệu nào sau đây thể hiện sự thay đổi điện trở suất lớn nhất đối với một sự thay đổi nhiệt độ cho trước?
(i) Chất cách điện; (ii) Chất bán dẫn; (iii) Chất dẫn điện.
Giải thích và đáp án
Đáp án lựa chọn: (ii) Chất bán dẫn.
Lời giải chi tiết: Một sự thay đổi nhiệt độ nhỏ
Kéo theo sự gia tăng tương ứng về độ dẫn điện và sự sụt giảm rất mạnh về điện trở suất. Trong khi đó, ở chất dẫn điện (kim loại), mật độ electron tự do gần như không đổi và điện trở suất chỉ biến thiên tuyến tính theo nhiệt độ (
Do đó, chất bán dẫn thể hiện độ nhạy nhiệt độ lớn nhất và được ứng dụng rộng rãi làm các cảm biến nhiệt điện trở (thermistor) có độ chính xác cao.
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 42.4, trang 1418–1421.