Giao diện
35.5. Giao thoa kế Michelson
Một thiết bị thực nghiệm quang học có tầm quan trọng đặc biệt dựa trên hiện tượng giao thoa ánh sáng là . Thiết bị này được sử dụng để đo lường với độ chính xác rất cao ánh sáng cũng như các dịch chuyển khoảng cách rất nhỏ, chẳng hạn sự biến thiên bề dày vi mô của sợi trục thần kinh khi có xung thần kinh truyền dọc theo chiều dài của nó.
Tương tự như thí nghiệm hai khe Young, lấy ánh sáng đơn sắc từ một nguồn đơn duy nhất và chia tách thành hai chùm sóng truyền theo hai đường khác nhau. Trong , sự chia sóng được thực hiện bằng cách cho ánh sáng đi qua hai khe hẹp song song. Còn trong giao thoa kế Michelson, người ta sử dụng một bộ phận quang học chuyên dụng gọi là bộ tách chùm sáng (beam splitter). Trong cả hai thí nghiệm, hiện tượng giao thoa xuất hiện khi hai sóng ánh sáng đó được kết hợp trở lại với nhau.
Nguyên lý hoạt động của giao thoa kế Michelson
Hình 35.19 mô tả các bộ phận cấu tạo chủ yếu của một tiêu chuẩn.

Chú thích:
- Ánh sáng đơn sắc (Monochromatic light)
- Gương di động (Movable mirror)
- Gương cố định (Fixed mirror)
- Bộ tách chùm sáng (Beam splitter)
- Bản bù quang trình (Compensator plate)
- Mắt quan sát (Eye)
- Bước 1: Ánh sáng đơn sắc được truyền từ nguồn sáng A đến bộ tách chùm C. (Monochromatic light is sent from light source A to beam splitter C.)
- Bước 2: Các tia 1 và 2 ló ra từ bộ tách chùm và lần lượt truyền về phía các gương M1 và M2. (Rays 1 and 2 emerge from the beam splitter and travel toward mirrors M1 and M2, respectively.)
- Bước 3: Tia 1 phản xạ tại M1, truyền qua bản bù D và phản xạ tại bề mặt mạ bạc P. Tia 2 phản xạ tại M2 và truyền qua bộ tách chùm C. (Ray 1 reflects off M1, passes through the compensator plate D, and reflects off the silvered surface P; ray 2 reflects off M2 and passes through the beam splitter C.)
- Bước 4: Cuối cùng hai tia kết hợp với nhau và đi tới mắt người quan sát. (Finally the two rays combine and reach the observer’s eye.)
Một tia sáng đơn sắc phát ra từ nguồn sáng
- Bước 1: Ánh sáng đơn sắc từ nguồn
được gửi tới bộ tách chùm . - Bước 2: Tại bề mặt mạ bạc
, chùm sáng được chia thành hai phần: Tia 1 truyền qua lớp mạ bạc và đi về phía gương . Trong khi tia 2 phản xạ tại bề mặt mạ bạc và truyền vuông góc về phía gương . - Bước 3: Tia 1 truyền qua bản bù
, phản xạ vuông góc tại gương phẳng cố định , quay trở lại qua bản và phản xạ tại bề mặt mạ bạc để hướng về phía mắt người quan sát. Cùng lúc đó, tia 2 phản xạ vuông góc tại gương phẳng di động và truyền thẳng qua bản thủy tinh để đi tới mắt người quan sát. - Bước 4: Cuối cùng, hai tia sáng 1 và 2 kết hợp lại với nhau và cùng đi vào mắt người quan sát.
Vai trò của bản bù
Cơ chế hình thành hệ vân giao thoa
Toàn bộ hệ thống giao thoa kế trong Hình 35.19 được gắn trên một bệ đỡ cơ học có độ cứng vững rất cao. Vị trí của gương phẳng
Nếu các khoảng cách
Khi khoảng cách
Giả sử góc nghiêng giữa gương
Sự thay đổi này làm cho toàn bộ hệ vân dịch chuyển sang trái hoặc sang phải một khoảng đúng bằng khoảng cách giữa hai vân kế tiếp (). Nếu quan sát vị trí các vân qua một kính ngắm có dây chữ thập ở thị kính và đếm được
Từ hệ thức này, của chùm sáng đơn sắc được xác định trực tiếp:
Khi số lượng vân đếm được
Thí nghiệm Michelson–Morley
Một ứng dụng lịch sử nổi tiếng của gắn liền với thí nghiệm Michelson–Morley. Trong mô hình lịch sử này, sóng ánh sáng được cho là cần một môi trường trung gian để lan truyền. Môi trường ête (ether) được giả định lấp đầy không gian.
Năm 1887, hai nhà khoa học Mỹ Albert Michelson và Edward Morley đã sử dụng nhằm phát hiện chuyển động chuyển dời của Trái Đất so với môi trường ête. Giả thiết giao thoa kế trong Hình 35.19 chuyển động từ trái sang phải với vận tốc xác định so với ête: Theo thuyết ête, sự chuyển động này sẽ dẫn đến sự thay đổi tốc độ ánh sáng trên các đoạn đường truyền nằm ngang so với các đoạn truyền thẳng đứng trong hình. Kết quả là hệ sẽ bị dịch chuyển vị trí so với trạng thái khi thiết bị đứng yên trong ête. Tiếp đó, khi quay toàn bộ giao thoa kế một góc
Dựa trên vận tốc quỹ đạo của Trái Đất quay quanh Mặt Trời, Michelson và Morley dự đoán rằng chuyển động của Trái Đất qua ête sẽ gây ra độ dịch vân khoảng 0,4 khi quay thiết bị một góc
Kết quả thực nghiệm phủ định đầy bất ngờ này đã thách thức các nhà vật lý suốt gần hai thập kỷ, cho tới năm 1905 khi Albert Einstein công bố thuyết tương đối hẹp (được nghiên cứu chi tiết ở Chương 37). Einstein đưa ra tiên đề rằng: Tốc độ của sóng ánh sáng lan truyền trong chân không luôn có cùng độ lớn
Ứng dụng sinh học: Chụp cắt lớp kết hợp quang học (OCT)

Chú thích:
- Ảnh OCT, tiết diện ngang võng mạc (OCT image: cross section of retina)
- Hố trung tâm (Fovea)
- Vùng bất thường (Abnormality)
Ánh sáng khả kiến có khả năng xuyên sâu tới khoảng nửa milimet (
Câu hỏi tự kiểm tra 35.5
Bạn đang quan sát hệ trong một tương tự như thiết bị mô tả trong Hình 35.19. Nếu bạn thay đổi của bản bù
Lời giải & Đáp án
Đáp án đúng: Có (hệ sẽ bị thay đổi).
Giải thích: Khi thay đổi
Tài liệu tham khảo
Young & Freedman, University Physics with Modern Physics, ấn bản 15, mục 35.5, trang 1175–1176.