Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Đối ngẫu Lagrange và điều kiện Slater

Chủ đề 9 / 12
  1. 1. Không gian Euclid, chuẩn và ma trận đối xứng
  2. 2. Đạo hàm, gradient, Hessian và cực trị
  3. 3. Tập lồi, hàm lồi và nghiệm tối ưu
  4. 4. Mô hình tối ưu và hồi quy tuyến tính
  5. 5. Quy hoạch tuyến tính và phân loại bài toán
  6. 6. Giải bài toán ba biến có hàm cos
  7. 7. Lagrangian và điều kiện KKT
  8. 8. Giải KKT theo tham số và tập ràng buộc chặt
  9. 9. Đối ngẫu Lagrange và điều kiện Slater
  10. 10. Bài tập ràng buộc lồi và phi lồi
  11. 11. Quy tắc chuỗi và Taylor nhiều biến
  12. 12. Gradient, backtracking và hướng Newton

Một điểm khả thi cho biết ta có thể đạt một giá trị mục tiêu nào đó. Muốn chứng minh không điểm nào tốt hơn, ta cần một cận dưới. Đối ngẫu Lagrange tìm chính cận dưới ấy bằng cách chọn các trọng số của ràng buộc.

1. Bài toán gốc và hàm đối ngẫu ​

Với bài min f(x) dưới các ràng buộc fi(x)≤0 và hj(x)=0, gọi bài ban đầu là bài toán gốc, hay primal. Lagrangian đã được khai triển đầy đủ là

L(x,μ,λ)=f(x)+∑i=1mμifi(x)+∑j=1pλjhj(x).

Giữ cố định các nhân tử rồi lấy cận dưới đúng theo x:

g(μ,λ)=infx∈XL(x,μ,λ).

Ở đây X là miền xác định chung của các hàm, không phải miền đã ép thỏa tất cả ràng buộc. Khi các hàm xác định trên toàn Rn, infimum được lấy trên toàn không gian ấy. Hàm L có tổng cộng n+m+p biến vô hướng, nhưng phép infimum chỉ tối ưu theo n biến gốc.

2. Đối ngẫu yếu ​

Với x khả thi và μ≥0 theo từng thành phần,

g(μ,λ)≤L(x,μ,λ)≤f(x).

Vì vậy mỗi bộ nhân tử khả thi cung cấp một cận dưới cho mọi giá trị mục tiêu khả thi. Bài toán đối ngẫu là chọn cận tốt nhất:

maxμ,λg(μ,λ),μi≥0,i=1,…,m,λ∈Rp.

Gọi p⋆ là infimum bài gốc và d⋆ là supremum bài đối ngẫu. Đối ngẫu yếu phát biểu d⋆≤p⋆. Kết quả này không cần bài gốc lồi. Dấu μ≥0 nghĩa là mọi thành phần không âm, hoàn toàn không có nghĩa mọi thành phần bằng không.

3. Vì sao hàm đối ngẫu lõm? ​

Với x cố định, L là affine theo bộ nhân tử u=(μ,λ). Cho hai bộ u,v và t∈[0,1],

g(tu+(1−t)v)=infx[tL(x,u)+(1−t)L(x,v)]≥tinfxL(x,u)+(1−t)infxL(x,v)=tg(u)+(1−t)g(v).

Bất đẳng thức nằm theo chiều này vì từng L(x,u)≥infzL(z,u). Do đó g lõm, hay tương đương −g lồi, trên miền hữu hiệu nơi hàm nhận giá trị hữu hạn. Infimum có thể bằng −∞ tại một số bộ nhân tử.

4. Đối ngẫu mạnh và Slater ​

Đối ngẫu mạnh nghĩa là p⋆=d⋆. Điều kiện Slater là một điều kiện đủ cho kết luận này trong bài toán lồi.

Giả sử f,fi lồi và hj affine. Slater yêu cầu một điểm x¯ trong nội tương đối của miền chung thỏa

fi(x¯)<0,i=1,…,m,hj(x¯)=0,j=1,…,p.

Nội tương đối là phần trong khi nhìn trong không gian affine nhỏ nhất chứa miền. Nếu miền chung là toàn Rn, điều kiện này trở về cách hiểu điểm trong thông thường. Với giá trị tối ưu hữu hạn, Slater cho đối ngẫu mạnh và sự đạt nghiệm đối ngẫu. Khi nghiệm gốc cũng đạt, KKT là điều kiện cần và đủ cho tối ưu dưới các giả thiết khả vi tương ứng.

Slater là điều kiện đủ, không phải phép kiểm cần và đủ cho mọi bài. Khi không tìm được điểm Slater, chưa thể suy ra có khoảng cách đối ngẫu dương.

5. Cách tính hàm đối ngẫu ​

Một cách làm thường dùng là giải ∇xL=0 rồi thay nghiệm vào L. Tuy nhiên, bước này đúng để tính infimum chỉ khi điểm dừng thật sự cực tiểu hóa L theo x.

Với L lồi khả vi theo x, điểm dừng là cực tiểu toàn cục. Nếu L không lồi, phải xét các điểm dừng, biên miền và khả năng không bị chặn dưới. Không được lấy tùy ý một điểm dừng để gọi là giá trị g.

6. Ví dụ một biến ​

Xét min x2 với x≥1. Viết ràng buộc 1−x≤0 và dùng nhân tử λ≥0 cho bất đẳng thức duy nhất. Trong ví dụ này, ký hiệu λ đóng vai trò của μ trong dạng tổng quát.

L(x,λ)=x2+λ(1−x),∂L∂x=2x−λ=0,x(λ)=λ/2.

Hessian theo x bằng 2 nên điểm dừng là cực tiểu duy nhất. Thay vào được

g(λ)=λ24+λ(1−λ2)=λ−λ24=1−(λ−2)24.

Vì λ≥0, đối ngẫu đạt cực đại 1 tại λ⋆=2. Bài gốc đạt 1 tại x⋆=1, nên hai giá trị bằng nhau. Điểm x=2 thỏa nghiêm ràng buộc, xác nhận Slater.

7. Ví dụ hai biến ​

Xét min x12+x22 với x1+x2≥1. Dùng ký hiệu s≥0 cho nhân tử để tránh nhầm với vector đầu ra y của hồi quy. Trên bảng nhân tử này được viết là y.

L(x1,x2,s)=x12+x22+s(1−x1−x2),2x1−s=0,2x2−s=0.

Hai tọa độ cực tiểu Lagrangian đều bằng s/2. Do đó

g(s)=s−s22=12−(s−1)22.

Đối ngẫu đạt d⋆=1/2 tại s⋆=1. Thu hồi nghiệm x⋆=(1/2,1/2), có p⋆=1/2. Điểm (1,1) thỏa nghiêm ràng buộc nên Slater áp dụng.

8. Bài tập tự luyện ​

Bài tập: Vì sao một bộ nhân tử chứng nhận được nghiệm?

Trong ví dụ hai biến, hãy viết một đẳng thức hoàn thành bình phương của L(x1,x2,1) rồi dùng nó để chứng minh mọi điểm khả thi có mục tiêu ít nhất 1/2.

Lời giải

Ta có

L(x1,x2,1)=(x1−1/2)2+(x2−1/2)2+1/2≥1/2.

Tại điểm khả thi, L≤f. Vì vậy f≥1/2. Điểm (1/2,1/2) đạt cận nên tối ưu.

Toàn bộ chủ đề ôn luyệnVề trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to