Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Đa diện và đơn hình

Chủ đề 10 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Quy hoạch tuyến tính, bài toán kinh điển và phổ biến bậc nhất của tối ưu hóa, có luôn được mô tả bằng một hệ các bất đẳng thức tuyến tính. Mỗi bất đẳng thức tương đương với việc cắt gọt không gian bằng một nửa không gian đóng, và phần giao còn lại sau khi áp đặt toàn bộ các ràng buộc chính là một đa diện. Thấu hiểu hình học của đa diện, xác định cấu trúc các đỉnh cực biên, kiểm tra tính bị chặn và tính khả thi là chìa khóa giải mã toàn bộ bản chất của quy hoạch tuyến tính.

Bài học này cũng giới thiệu đơn hình, cấu trúc đa diện nguyên thủy nhất: Đoạn thẳng, tam giác, tứ diện và các hình học tổng quát trong không gian nhiều chiều. Đặc biệt, đơn hình xác suất, của mọi phân phối xác suất trên một không gian biến cố rời rạc hữu hạn, là đối tượng toán học xuất hiện liên tục trong học máy và trí tuệ nhân tạo. Cuối bài, ta sẽ đối chiếu hai cách mô tả đa diện: Bằng hệ ràng buộc nửa không gian (H-representation) hoặc bằng tập đỉnh và hướng cực biên (V-representation), cùng sự bùng nổ hàm mũ về độ phức tạp khi chuyển đổi giữa chúng.

1. Đa diện ​

Định nghĩa. Một đa diện (polyhedron) là tập nghiệm của một số hữu hạn bất đẳng thức và đẳng thức tuyến tính:

P={x∈Rn|ajTx≤bj,j=1,…,m,cjTx=dj,j=1,…,p}.>

Nói cách khác, đa diện là giao của một số hữu hạn các nửa không gian đóng và siêu phẳng. Vì mỗi nửa không gian và mỗi siêu phẳng đều là , đồng thời giao của một họ tùy ý các tập lồi luôn là một tập lồi, nên mọi đa diện đều là tập lồi. Hình ảnh trực quan của một đa diện chính là phần giao nhau của các nửa không gian, trong đó mỗi nửa không gian được phân định bởi một pháp tuyến aj hướng ra ngoài.

Ta thường sử dụng dạng biểu diễn cô đọng:

P={x∈Rn∣Ax⪯b, Cx=d},

trong đó các hàng của A∈Rm×n lần lượt là a1T,…,amT, các hàng của C∈Rp×n là c1T,…,cpT, và ký hiệu u⪯v giữa hai thể hiện quan hệ so sánh trên từng thành phần: Cụ thể ui≤vi với mọi i=1,…,m. Ký hiệu này khác biệt căn bản với dấu so sánh trên trục số thực: Hai vector u=(1,3)T và v=(2,2)T hoàn toàn không thể so sánh được theo thứ tự này vì u1<v1 nhưng u2>v2.

Nhiều quen thuộc trong giải tích và đại số tuyến tính là đa diện: Tập affine (chỉ chứa các ràng buộc đẳng thức), tia, đoạn thẳng, nửa không gian đóng, và nón phần tư không âm R+n={x∈Rn∣x⪰0}. Nón phần tư không âm vừa mang cấu trúc nón vừa là đa diện nên được gọi là nón đa diện (polyhedral cone).

Một đa diện có thể không bị chặn (chẳng hạn như một nửa không gian) và có thể rỗng khi hệ ràng buộc xảy ra mâu thuẫn. Một đa diện bị chặn được gọi là đa đỉnh (polytope). Trong y văn tối ưu hóa, các tác giả đôi khi dùng hai thuật ngữ đa diện (polyhedron) và đa đỉnh (polytope) theo những quy ước hoán đổi cho nhau, do đó việc đối chiếu định nghĩa giả thiết luôn là bước cẩn trọng cần thiết.

Mô phỏng tương tác dưới đây biểu diễn một đa diện trong mặt phẳng 2D được tạo thành từ giao của các nửa mặt phẳng. Các đường biên nét đứt đại diện cho các siêu phẳng ràng buộc, và miền tô màu là phần giao khả thi:

Ghép đa diện từ từng nửa mặt phẳng

(0.0, 2.5)(0.0, 0.0)(2.0, 0.0)(3.0, 1.0)(1.0, 3.0)

Đa diện là giao của 5 nửa mặt phẳng, bị chặn, nên là một đa giác lồi.

Các đỉnh: (0.00, 2.50) (chặt: x₁ ≥ 0, −x₁ + 2x₂ ≤ 5); (0.00, 0.00) (chặt: x₁ ≥ 0, x₂ ≥ 0); (2.00, 0.00) (chặt: x₂ ≥ 0, x₁ − x₂ ≤ 2); (3.00, 1.00) (chặt: x₁ + x₂ ≤ 4, x₁ − x₂ ≤ 2); (1.00, 3.00) (chặt: x₁ + x₂ ≤ 4, −x₁ + 2x₂ ≤ 5).

Gợi ý thao tác
  1. Tắt x₁ + x₂ ≤ 4. Đa diện thay đổi thế nào, và nó còn bị chặn không?
  2. Bật x₁ + x₂ ≥ 5 khi x₁ + x₂ ≤ 4 vẫn bật. Vì sao miền trở thành rỗng?
  3. Chỉ để lại x₁ − x₂ ≤ 2. Đa diện có đỉnh không?
  4. Ở mỗi đỉnh, có đúng mấy ràng buộc chặt?

Một trực giác hình học then chốt được thể hiện ở trạng thái các ràng buộc: Trong mặt phẳng R2, mỗi đỉnh của đa diện luôn có ít nhất hai ràng buộc đạt đẳng thức (ràng buộc chặt, active constraints), và hai đường thẳng biên cắt nhau chính xác tại đỉnh đó. Nguyên lý này tổng quát hóa thành định nghĩa đại số của đỉnh (basic feasible solution) trong không gian Rn: Một là một đỉnh khi và chỉ khi tồn tại ít nhất n ràng buộc chặt với các pháp tuyến độc lập tuyến tính.

2. Đơn hình ​

Trước khi định nghĩa đơn hình, ta cần một khái niệm độc lập hình học tương thích với không gian affine.

Định nghĩa. các điểm v0,v1,…,vk∈Rn được gọi là độc lập affine (affinely independent) nếu các hiệu v1−v0,…,vk−v0 độc lập tuyến tính trong không gian vector Rn.

Ý nghĩa hình học: Ba điểm độc lập affine nghĩa là chúng không thẳng hàng (tạo thành một tam giác thực sự), bốn điểm độc lập affine nghĩa là chúng không đồng phẳng (tạo thành một tứ diện thực sự). Định nghĩa đo các hiệu so với mốc v0, hoàn toàn độc lập với việc chọn gốc tọa độ. Việc thay thế v0 bằng bất kỳ điểm nào khác trong tập điểm đều dẫn đến kết luận tương đương.

Định nghĩa. Với k+1 điểm độc lập affine v0,…,vk, đơn hình (simplex) xác định bởi chúng là của các điểm này:

C=conv{v0,…,vk}={∑i=0kθivi|θi≥0, ∑i=0kθi=θ0+θ1+⋯+θk=1}.>

Đơn hình này có số chiều affine đúng bằng k, nên được gọi là một đơn hình k-chiều trong Rn. Cụ thể: Đơn hình 1-chiều là một đoạn thẳng nối hai điểm, đơn hình 2-chiều là một tam giác đặc nối ba điểm, đơn hình 3-chiều là một khối tứ diện nối bốn điểm.

Hai họ đơn hình giữ vai trò nền tảng đặc biệt:

  • Đơn hình đơn vị (Unit simplex): Được xác định bởi gốc tọa độ cùng các cơ sở chính tắc {0,e1,…,en}, biểu diễn dưới dạng {x∈Rn∣x⪰0, 1Tx≤1}. Đơn hình này có số chiều bằng n.
  • Đơn hình xác suất (Probability simplex): Được xác định bởi các cơ sở chính tắc {e1,…,en}, biểu diễn dưới dạng :
Δn={x∈Rn|x⪰0, 1Tx=∑i=1nxi=1}.

Đơn hình này có số chiều affine bằng n−1, và mỗi điểm x∈Δn tương ứng với một phân phối xác suất rời rạc trên n biến cố, với xi là xác suất của biến cố thứ i.

Đơn hình xác suất là cấu trúc hình học trung tâm trong học máy: Đầu ra xác suất của hàm Softmax trong mạng nơ-ron phân loại đa lớp là một điểm nằm trong phần trong tương đối của đơn hình xác suất. Trọng số phân bổ của mô hình hỗn hợp Gaussian (GMM), hay các trọng số Attention trong kiến trúc Transformer, đều là các phần tử của đơn hình xác suất. Mỗi đỉnh ei biểu thị một quyết định tuyệt đối (xác suất 100% cho lớp i), trong khi trọng tâm 1n1 biểu thị trạng thái hoàn toàn ngẫu nhiên và bất định (phân phối đều với entropy cực đại).

3. Chuyển đổi biểu diễn đơn hình sang hệ bất đẳng thức ​

Định nghĩa đơn hình xuất phát từ góc nhìn tập đỉnh (). Tuy nhiên, vì đơn hình là một đa diện, nó hoàn toàn có thể được biểu diễn tường minh dưới dạng một hệ bất đẳng thức và đẳng thức tuyến tính. Ta hoàn toàn có thể chuyển đổi biểu diễn này bằng một lập luận đổi biến affine mẫu mực:

Mọi điểm x thuộc đơn hình đều có dạng x=θ0v0+θ1v1+⋯+θkvk. Thay thế θ0=1−∑i=1kθi, ta thu được biểu thức tương đương:

x=v0+∑i=1kθi(vi−v0)=v0+By,y=(θ1,…,θk)T,

với B=[v1−v0⋯vk−v0]∈Rn×k. Điều kiện đối với θ quy về y⪰0 và 1Ty≤1 (do θ0=1−1Ty≥0). Do các điểm độc lập affine, ma trận B có các cột độc lập tuyến tính, tức hạng rank(B)=k. Khi đó tồn tại một ma trận không suy biến A=[A1A2]∈Rn×n sao cho AB=[Ik0].

Nhân cả hai vế của x=v0+By với A từ bên trái, ta phân rã thành hai hệ phương trình: Cụ thể là A1x=A1v0+y và A2x=A2v0. Từ phương trình thứ nhất ta rút ra y=A1(x−v0). Thay biểu thức này vào các điều kiện của y, ta nhận được hệ điều kiện cần và đủ để x thuộc đơn hình như sau:

A2x=A2v0,A1x⪰A1v0,1TA1x≤1+1TA1v0.

Hệ trên hoàn toàn bao gồm các đẳng thức và bất đẳng thức tuyến tính theo biến x. Ràng buộc A2x=A2v0 định vị điểm x nằm trọn vẹn trong không gian con affine k-chiều sinh bởi đơn hình, trong khi các bất đẳng thức bảo đảm các tọa độ trọng tâm (barycentric coordinates) đều không âm và có tổng không vượt quá 1.

Ví dụ: Chuyển đổi biểu diễn tam giác trong mặt phẳng và không gian

Xét tam giác trong R2 với ba đỉnh v0=(1,1)T, v1=(3,1)T và v2=(1,4)T. hiệu là B=[2003]. Vì B khả nghịch nên ta chọn ngay A=A1=B−1=[1/2001/3], và không xuất hiện thành phần A2.

Điều kiện y=B−1(x−v0)⪰0 dẫn tới x1≥1 và x2≥1. Điều kiện 1Ty≤1 tương đương với x1−12+x2−13≤1, tức 3x1+2x2≤11. Ta thu được hệ ba bất đẳng thức mô tả trọn vẹn tam giác.

Xét tiếp tam giác trong R3 có các đỉnh v0=(0,0,1)T, v1=(1,0,1)T và v2=(0,1,1)T. B=[100100] có hạng bằng 2. Chọn ma trận biến đổi A=I3, trong đó A1 gồm hai hàng đầu và A2=[001]. Khi đó hệ thu được gồm: Phương trình mặt phẳng x3=1, cùng các bất đẳng thức x1≥0, x2≥0 và x1+x2≤1.

4. Hai cách mô tả đa diện: Đối ngẫu H-representation và V-representation ​

của một hữu hạn điểm conv{v1,…,vk} luôn là một đa diện bị chặn (polytope). Ta có một kết quả mở rộng quan trọng: Tập hợp

{∑i=1kθivi|∑i=1mθi=1, θi≥0, i=1,…,k},m≤k,

chính là tổng Minkowski của của v1,…,vm và bao nón (conical hull) của vm+1,…,vk. này luôn là một đa diện. Ngược lại, ta có định lý nền tảng: Mọi đa diện đều viết được dưới dạng bao lồi của hữu hạn điểm cộng bao nón của hữu hạn hướng cực biên. Đây chính là nội dung của Định lý Minkowski–Weyl.

Do đó, mỗi đa diện đều sở hữu hai lăng kính toán học:

  1. Mô tả bằng nửa không gian (H-representation): Biểu diễn qua hệ ràng buộc Ax⪯b, Cx=d. Cách tiếp cận này trả lời tức thì câu hỏi: "Làm thế nào để kiểm tra một điểm cho trước có thuộc đa diện hay không?" (chỉ cần nhân và kiểm tra dấu).
  2. Mô tả bằng đỉnh và tia cực biên (V-representation): Biểu diễn qua các đỉnh và hướng suy biến. Cách tiếp cận này trả lời câu hỏi: "Làm thế nào để sinh ra toàn bộ các điểm thuộc đa diện?" (lấy và tổ hợp nón).

Việc chọn cách mô tả có hệ quả tính toán mang tính sống còn trong thực tế. Hãy quan sát quả cầu chuẩn ℓ∞ trong Rn:

{x∈Rn∣|xi|≤1, i=1,…,n}.
  • Theo H-representation: Chỉ cần đúng 2n bất đẳng thức tuyến tính dạng ±eiTx≤1.
  • Theo V-representation: Đòi hỏi toàn bộ 2n đỉnh cực biên, gồm tất cả các có tọa độ nhận giá trị ±1. Với số chiều n=50, một bên là 100 bất đẳng thức rất gọn nhẹ, trong khi bên kia đòi hỏi lưu trữ hơn 1015 đỉnh.

Ngược lại, hãy quan sát quả cầu chuẩn ℓ1 (khối bát diện đều nhiều chiều - cross-polytope):

  • Theo V-representation: Chỉ có đúng 2n đỉnh cực biên là ±ei.
  • Theo H-representation: Để mô tả trực tiếp các mặt ngoài, ta cần tới 2n bất đẳng thức tuyến tính dạng sTx≤1 với mọi dấu s∈{−1,1}n.

Sự tương phản này mang lại một bài học trực giác sâu sắc trong tối ưu hóa: Một bài toán có thể rất đơn giản ở biểu diễn này nhưng lại bùng nổ độ phức tạp theo hàm mũ ở biểu diễn kia. Trong lập mô hình học máy, lựa chọn cấu trúc biểu diễn phù hợp quyết định ranh giới giữa một thuật toán giải trong một giây và một bài toán hoàn toàn không thể giải quyết.

5. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Một hình tròn đóng trong R2 có phải là một đa diện không? Nó có thể biểu diễn như giao của các nửa mặt phẳng hay không?

Xem lời giải thích

Hình tròn đóng là giao của vô hạn các nửa mặt phẳng đóng, chẳng hạn họ các nửa mặt phẳng {x∈R2∣uTx≤1} với mọi đơn vị ∥u∥2=1. Tuy nhiên, nó không phải là một đa diện, bởi vì định nghĩa của đa diện bắt buộc số lượng nửa không gian tham gia phép giao phải là hữu hạn. Biên của một đa diện luôn gồm các đoạn thẳng hoặc diện phẳng, trong khi biên của hình tròn có độ cong dương tại mọi điểm.

Câu 2. Một đa diện có thể không có bất kỳ đỉnh nào không? Nếu có, điều kiện cấu trúc nào giải thích hiện tượng này?

Xem lời giải thích

Hoàn toàn có thể. Một nửa không gian đóng, một dải vô hạn {x∈R2∣0≤x1≤1} hay một đường thẳng đều là các đa diện nhưng không có đỉnh nào. Đặc điểm chung của chúng là đều chứa trọn vẹn ít nhất một đường thẳng vô hạn đi qua không gian. Người ta chứng minh được rằng: Một đa diện không rỗng có ít nhất một đỉnh khi và chỉ khi nó không chứa bất kỳ đường thẳng vô hạn nào. Kết quả này là tiền đề trọng yếu cho phương pháp Đơn hình (Simplex algorithm) trong quy hoạch tuyến tính.

Câu 3. Ba (1,0,0)T, (0,1,0)T, (1,1,0)T có độc lập affine không? Bốn điểm (0,0,0)T, (1,0,0)T, (0,1,0)T, (1,1,0)T thì sao?

Xem lời giải thích

Với ba điểm đầu, chọn mốc v0=(1,0,0)T: Hai hiệu là (−1,1,0)T và (0,1,0)T rõ ràng độc lập tuyến tính, do đó ba điểm này độc lập affine. Chúng tạo thành ba đỉnh của một tam giác.

Với bốn điểm sau, chọn mốc v0=0: Ba hiệu (1,0,0)T, (0,1,0)T, (1,1,0)T phụ thuộc tuyến tính vì vector thứ ba bằng tổng hai vector đầu. Do đó bốn điểm này không độc lập affine. Chúng là bốn đỉnh của một hình vuông phẳng, và của chúng không phải là một đơn hình mà là một đa diện 2 chiều thông thường.

Câu 4. Trong bài toán phân loại đa lớp, vì sao trọng tâm 1n1 của đơn hình xác suất được xem là trạng thái "vô thiên lệch" nhất?

Xem lời giải thích

Trọng tâm của đơn hình xác suất hội tụ ba tính chất hình học và thông tin tối ưu:

  1. Về hình học: Nó là trung bình cộng đối xứng của toàn bộ n đỉnh cực biên.
  2. Về khoảng cách: Nó là điểm thuộc đơn hình xác suất gần gốc tọa độ nhất theo , tức nghiệm duy nhất của bài toán min∥p∥22 với ràng buộc 1Tp=1, p⪰0.
  3. Về lý thuyết thông tin: Nó là phân phối tối đa hóa hàm Entropy H(p)=−∑i=1npiln⁡pi, đại diện cho trạng thái bất định hoàn toàn khi mô hình không có bất kỳ bằng chứng định kiến nào.

6. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Tìm đỉnh của đa diện

Tìm toàn bộ các đỉnh của đa diện sau trong R2:

P={x∈R2∣x1≥0, x2≥0, x1+2x2≤6, 2x1+x2≤6}

và chỉ rõ các ràng buộc chặt tại từng đỉnh.

Lời giải

Ta giải phương trình giao điểm của từng cặp ràng buộc biên độc lập và kiểm tra tính khả thi:

  • Giao của x1=0 và x2=0 cho đỉnh (0,0).
  • Giao của x2=0 và 2x1+x2=6 cho đỉnh (3,0).
  • Giao của x1=0 và x1+2x2=6 cho đỉnh (0,3).
  • Giao của hai ràng buộc x1+2x2=6 và 2x1+x2=6 cho nghiệm (2,2), điểm này thỏa mãn cả hai ràng buộc không âm nên là một đỉnh khả thi.

Các giao điểm khác như (6,0) hay (0,6) vi phạm các ràng buộc còn lại nên bị loại. Đa diện có đúng bốn đỉnh gồm: Tọa độ (0,0), (3,0), (2,2) và (0,3), mỗi đỉnh đều được xác định bởi đúng hai ràng buộc chặt độc lập.

Bài tập 2: Đơn hình xác suất dưới dạng chuẩn ma trận

Hãy biểu diễn đơn hình xác suất trong không gian R3 dưới dạng chuẩn {x∈R3∣Ax⪯b, Cx=d}, chỉ rõ cấu trúc của A,b,C,d. Số chiều affine của tập này bằng bao nhiêu?

Lời giải

Các ràng buộc không âm xi≥0 được viết lại thành −xi≤0, do đó ta có A=−I3 và b=0∈R3.

Ràng buộc tổng xác suất bằng 1 được biểu diễn bởi C=[111] và d=1.

Chiều affine của đơn hình xác suất bằng 3−1=2, vì nằm trọn trong mặt phẳng 2 chiều x1+x2+x3=1 và chứa ba điểm độc lập affine e1,e2,e3.

Bài tập 3: Nhận dạng tập đa diện

Cho hai a1,a2∈Rn và :

S={y1a1+y2a2∣−1≤y1≤1, −1≤y2≤1}.

S có phải là một đa diện hay không? Hãy mô tả cấu trúc của nó khi n=2 và hai a1,a2 độc lập tuyến tính.

Lời giải

Tập S chính là ảnh của hình vuông đơn vị [−1,1]2 qua ánh xạ tuyến tính y↦y1a1+y2a2. Do đó S là của bốn điểm cực biên ±a1±a2. Vì bao lồi của một tập hữu hạn điểm luôn là một đa diện, nên S chắc chắn là một đa diện.

Khi n=2 và a1,a2 độc lập tuyến tính, đặt khả nghịch M=[a1a2]∈R2×2. Một điểm x∈S khi và chỉ khi y=M−1x thỏa mãn −1⪯y⪯1, tương đương với hệ bốn bất đẳng thức tuyến tính: Cụ thể là |(M−1x)1|≤1 và |(M−1x)2|≤1. Về mặt hình học, đây là một hình bình hành đóng có tâm đối xứng tại gốc tọa độ.

Tóm tắt ​

Đa diện là tập nghiệm của một hệ hữu hạn các bất đẳng thức và đẳng thức tuyến tính, biểu diễn là {x∣Ax⪯b, Cx=d}. Mọi đa diện đều lồi, có thể bị chặn hoặc không bị chặn. Đơn hình là của một tập điểm độc lập affine, bao gồm các cấu trúc hình học cơ bản như đoạn thẳng, tam giác và tứ diện. Đơn hình xác suất mô tả không gian của các phân phối rời rạc và là nền tảng của các hàm kích hoạt softmax và trọng số attention trong trí tuệ nhân tạo.

Định lý Minkowski–Weyl thiết lập sự tương đương giữa hai cách mô tả đa diện: Biểu diễn bằng nửa không gian (H-rep) và biểu diễn bằng đỉnh cực biên (V-rep). Chuyển đổi giữa hai biểu diễn này có thể dẫn đến sự bùng nổ kích thước theo hàm mũ, đòi hỏi sự lựa chọn thận trọng trong thiết kế mô hình toán học và thuật toán tối ưu.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to