Giao diện
Xét trực giác hình học: Khi đặt hai vật thể lồi không giao nhau trên một mặt phẳng, ta luôn có thể luồn một tấm phẳng vào giữa để ngăn cách tuyệt đối hai vật thể. Trái lại, nếu một vật thể có hình lưỡi liềm khuyết lõm ôm lấy vật thể kia, thì không một mặt phẳng nào có thể phân tách chúng dù hai vật thể không chạm nhau. Điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt này chính là tính lồi.
Định lý siêu phẳng phân tách biến trực giác ấy thành một mệnh đề toán học chính xác, và là một trong những cột trụ giải tích của toàn bộ lý thuyết tối ưu hóa. Lý thuyết đối ngẫu Lagrange, hệ điều kiện tối ưu Karush-Kuhn-Tucker (KKT), bổ đề Farkas, các định lý về giải pháp thay thế, và bài toán phân loại tuyến tính trong học máy đều bắt nguồn trực tiếp từ định lý này. Ta sẽ phát biểu định lý, chứng minh trong trường hợp hình học mẫu mực nhất, rồi mở rộng sang các hệ quả nền tảng.
1. Định lý siêu phẳng phân tách
Định lý. Cho
và là hai lồi khác rỗng, rời nhau trong ( ). Khi đó tồn tại pháp tuyến và số thực sao cho:
Nói cách khác, dạng affine
Ba lưu ý sư phạm cần khắc sâu khi phân tích định lý:
- Tính lồi là điều kiện bắt buộc: Ví dụ hai dạng lưỡi liềm lồng vào nhau cho thấy nếu thiếu tính lồi, định lý phân tách sẽ sụp đổ hoàn toàn dù hai tập không giao nhau.
- Dấu bất đẳng thức trong kết luận là không ngặt (
và ): Hai vẫn có thể cùng chạm vào siêu phẳng phân tách tại các điểm biên. - Định lý mang tính tồn tại: Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp giải tích cụ thể, chứng minh dưới đây cho ta một thuật toán hình học tường minh để dựng siêu phẳng phân cách.
Một siêu phẳng giữa hai tập lồi rời nhau
Cặp điểm gần nhất là c = (−1.30, −1.00) và d = (1.58, −0.05), cách nhau 3.04.
Đường tím vuông góc với d − c và đi qua trung điểm của đoạn [c, d]. Hàm affine aᵀx − b với a = d − c âm trên C và dương trên D.
Gợi ý thao tác
- Kéo hai tập lại gần nhau. Đường phân tách xoay và dịch thế nào?
- Cho hai tập chạm nhau tại đúng một điểm. Lúc đó còn đường phân tách không, và nó có tách nghiêm ngặt không?
2. Chứng minh trong trường hợp tồn tại cặp điểm gần nhất
Ta bắt đầu bằng việc chứng minh định lý trong trường hợp trực quan nhất: Khi hai sở hữu một cặp điểm gần nhau nhất. Giả sử khoảng cách Euclid giữa hai :
là một số dương ngặt, và tồn tại hai điểm
Dựng siêu phẳng phân tách. Chọn pháp tuyến
Về hình học, siêu phẳng
Chứng minh
do đó điều kiện
Đạo hàm nhận giá trị âm chứng tỏ khi dịch chuyển một đoạn nhỏ từ
Lập luận tương tự cho phép khẳng định
Điểm mấu chốt sử dụng tính lồi nằm ở chỗ: Đoạn thẳng nối
3. Điều kiện phân tách nghiêm ngặt
Siêu phẳng trung trực dựng ở mục trên thỏa mãn điều kiện ngặt mạnh hơn: Cụ thể là
Chẳng hạn trong
Cả hai tập đều lồi, đóng và không giao nhau. Tuy nhiên khi hoành độ
Trường hợp nền tảng luôn bảo đảm phân tách nghiêm ngặt là: Một điểm nằm ngoài một đóng. Nếu
Hệ quả hình học: Mọi đóng
4. Chiều ngược lại và định lý về giải pháp thay thế
Chiều ngược của định lý phân tách ("tồn tại siêu phẳng phân tách thì hai tập phải rời nhau") nói chung không đúng nếu không bổ sung điều kiện tô-pô. Chẳng hạn hai tập suy biến
Tổng hợp lại, ta có định lý tương đương: Hai , trong đó ít nhất một tập là tập mở, rời nhau khi và chỉ khi tồn tại một siêu phẳng phân tách chúng.
Ta có ứng dụng trực tiếp vào giải quyết hệ bất đẳng thức tuyến tính: Hệ bất đẳng thức ngặt
Hai hệ trên tạo thành một cặp giải pháp thay thế (theorem of alternatives): Với bất kỳ bộ dữ liệu
Ví dụ: Chứng chỉ vô nghiệm cho hệ một biến
Xét hệ bất đẳng thức
Cơ chế hoạt động của chứng chỉ: Lấy tổ hợp tuyến tính các bất đẳng thức với trọng số
5. Siêu phẳng tựa
Định lý phân tách có một phiên bản giới hạn khi tập thứ hai thu về một điểm biên duy nhất:
Định nghĩa. Cho
và điểm thuộc biên của . Nếu tồn tại sao cho với mọi , thì siêu phẳng được gọi là một siêu phẳng tựa (supporting hyperplane) của tại điểm .
Về mặt trực giác, siêu phẳng tựa tiếp xúc với tập
Định lý siêu phẳng tựa. Nếu
là một khác rỗng thì tại mọi điểm nằm trên biên của luôn tồn tại ít nhất một siêu phẳng tựa.
Chứng minh dựa vào việc áp dụng định lý phân tách giữa điểm biên
Siêu phẳng tựa tại một điểm biên
x₀ = (−0.39, −1.84) nằm trên một cạnh. Ở đây chỉ có đúng một siêu phẳng tựa, chứa cả cạnh đó.
Pháp tuyến a = (−0.13, −0.99). Mọi đỉnh của đa giác thỏa aᵀx ≤ aᵀx₀: đúng.
Gợi ý thao tác
- Đưa x₀ tới giữa một cạnh, rồi tới một đỉnh. Số siêu phẳng tựa thay đổi thế nào?
- Ở một đỉnh, kéo thanh chọn pháp tuyến tới hai đầu. Hai đường tựa giới hạn trùng với gì?
Siêu phẳng tựa là chìa khóa hình học giải bài toán tối ưu tuyến tính trên : Bài toán tìm cực đại của dạng tuyến tính
6. Phân loại tuyến tính và máy vector hỗ trợ (SVM)
Xét bài toán học máy phân loại nhị phân với hai tập điểm dữ liệu
Trường hợp kinh điển minh họa cho sự vi phạm điều kiện này là bài toán logic XOR: Lớp thứ nhất gồm hai điểm
Khi hai lớp dữ liệu phân tách tuyến tính được, một hướng tiếp cận tự nhiên là tìm siêu phẳng phân cách đạt độ mở lề lớn nhất (maximum margin), tức khoảng cách từ siêu phẳng tới các điểm dữ liệu gần nhất ở cả hai phía đạt cực đại. Bề rộng của lề tối ưu bằng đúng khoảng cách Euclid giữa hai . Siêu phẳng phân cách tối ưu chính là mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm gần nhất giữa hai bao lồi, hoàn toàn trùng khớp với cách dựng trong chứng minh ở mục 2. Đây chính là bản chất toán học của thuật toán Support Machine (SVM) lề cứng.
Tách hai lớp dữ liệu với lề lớn nhất
Hai bao lồi cách nhau 3.39. Đường tím là trung trực của đoạn nối hai điểm gần nhất, và dải giữa hai đường nét đứt có bề rộng bằng đúng khoảng cách đó.
Theo §8.6.1 của sách, đây là đường tách có lề lớn nhất: lề (một nửa bề rộng dải) bằng 1.70.
Gợi ý thao tác
- Kéo một điểm vuông vào bên trong bao lồi của lớp tròn. Điều gì xảy ra?
- Những điểm nào thật sự quyết định vị trí đường tách? Thử kéo một điểm nằm xa đường tách.
Trong mô hình SVM, chỉ những điểm dữ liệu nằm trên biên của lề (các điểm cực biên của quyết định khoảng cách giữa hai tập) mới có trọng số Lagrange khác không. Chúng được gọi là các hỗ trợ (support vectors), trong khi các điểm dữ liệu nằm sâu bên trong cụm hoàn toàn không ảnh hưởng tới vị trí của ranh giới phân lớp.
7. Những câu hỏi để đào sâu
Câu 1. Định lý phân tách có còn đúng không nếu chỉ một trong hai là ? Hãy nêu một ví dụ phản chứng cụ thể.
Xem lời giải thích
Định lý sẽ không còn đúng. Xét trong
Câu 2. Trong chứng minh ở mục 2, nếu ta đổi dấu pháp tuyến thành
Xem lời giải thích
Việc đổi dấu pháp tuyến và hệ số tự do chỉ làm đảo ngược dấu của hàm affine mà không làm thay đổi vị trí hình học của siêu phẳng phân tách: Khi đó ta có
Câu 3. Liệu có thể phân tách nghiêm ngặt hai đóng, rời nhau mà cả hai đều không bị chặn hay không?
Xem lời giải thích
Hoàn toàn có thể. Xét hai nửa mặt phẳng đóng
Câu 4. Trong bài toán XOR, nếu ta đưa thêm một đặc trưng phi tuyến bậc hai
Xem lời giải thích
Hoàn toàn phân tách được. Sau khi chiếu vào
8. Bài tập tự luyện
Bài tập 1: Dựng siêu phẳng phân tách giữa hai hình tròn
Cho hai hình tròn đóng trong mặt phẳng: Cụ thể là
Lời giải
Khoảng cách giữa hai tâm là
Cặp điểm đạt khoảng cách cực tiểu giữa hai tập được xác định cụ thể:
, .
pháp tuyến là
Bài tập 2: Chứng chỉ vô nghiệm
Hãy chứng minh hệ bất đẳng thức
Lời giải
Viết lại hệ dưới dạng chuẩn
, , .
hệ số và vế phải là:
Chọn nhân tử
Nhân các bất đẳng thức với trọng số
Bài tập 3: Siêu phẳng tựa của hình vuông chuẩn ℓ∞
Xác định toàn bộ các siêu phẳng tựa của hình vuông đơn vị
Lời giải
Tại điểm
Tại đỉnh
Tóm tắt
Hai khác rỗng rời nhau luôn tồn tại ít nhất một siêu phẳng phân tách chúng. Khi khoảng cách giữa hai tập đạt cực tiểu tại một cặp điểm, siêu phẳng phân tách chính là mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm đó. Mọi tập lồi đóng đều bằng giao của toàn bộ các nửa không gian đóng chứa nó, tạo nên nền tảng cho lý thuyết đối ngẫu.
Định lý về giải pháp thay thế cung cấp chứng chỉ đại số hữu hạn để xác minh tính vô nghiệm của hệ bất đẳng thức. Tại mọi điểm biên của một luôn tồn tại siêu phẳng tựa, liên kết trực tiếp với nghiệm của bài toán quy hoạch tuyến tính. Trong học máy, hai tập dữ liệu phân tách tuyến tính được khi và chỉ khi hai của chúng không giao nhau, và siêu phẳng lề cực đại của máy hỗ trợ (SVM) chính là siêu phẳng trung trực nối hai bao lồi.
Tài liệu tham khảo
- Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.