Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa

Chủ đề 15 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Xét trực giác hình học: Khi đặt hai vật thể lồi không giao nhau trên một mặt phẳng, ta luôn có thể luồn một tấm phẳng vào giữa để ngăn cách tuyệt đối hai vật thể. Trái lại, nếu một vật thể có hình lưỡi liềm khuyết lõm ôm lấy vật thể kia, thì không một mặt phẳng nào có thể phân tách chúng dù hai vật thể không chạm nhau. Điểm mấu chốt tạo nên sự khác biệt này chính là tính lồi.

Định lý siêu phẳng phân tách biến trực giác ấy thành một mệnh đề toán học chính xác, và là một trong những cột trụ giải tích của toàn bộ lý thuyết tối ưu hóa. Lý thuyết đối ngẫu Lagrange, hệ điều kiện tối ưu Karush-Kuhn-Tucker (KKT), bổ đề Farkas, các định lý về giải pháp thay thế, và bài toán phân loại tuyến tính trong học máy đều bắt nguồn trực tiếp từ định lý này. Ta sẽ phát biểu định lý, chứng minh trong trường hợp hình học mẫu mực nhất, rồi mở rộng sang các hệ quả nền tảng.

1. Định lý siêu phẳng phân tách ​

Định lý. Cho C và D là hai lồi khác rỗng, rời nhau trong Rn (C∩D=∅). Khi đó tồn tại pháp tuyến a≠0 và số thực b sao cho:

aTx≤b,∀x∈C,aTx≥b,∀x∈D.>

Nói cách khác, dạng affine aTx−b không dương trên toàn bộ tập C và không âm trên toàn bộ tập D. Siêu phẳng H={x∈Rn∣aTx=b} được gọi là siêu phẳng phân tách (separating hyperplane) của C và D: Hai nằm về hai phía đối diện của siêu phẳng, có thể tiếp xúc với siêu phẳng nhưng không bao giờ cắt xuyên qua.

Ba lưu ý sư phạm cần khắc sâu khi phân tích định lý:

  1. Tính lồi là điều kiện bắt buộc: Ví dụ hai dạng lưỡi liềm lồng vào nhau cho thấy nếu thiếu tính lồi, định lý phân tách sẽ sụp đổ hoàn toàn dù hai tập không giao nhau.
  2. Dấu bất đẳng thức trong kết luận là không ngặt (≤ và ≥): Hai vẫn có thể cùng chạm vào siêu phẳng phân tách tại các điểm biên.
  3. Định lý mang tính tồn tại: Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp giải tích cụ thể, chứng minh dưới đây cho ta một thuật toán hình học tường minh để dựng siêu phẳng phân cách.

Một siêu phẳng giữa hai tập lồi rời nhau

cdCD

Cặp điểm gần nhất là c = (−1.30, −1.00) và d = (1.58, −0.05), cách nhau 3.04.

Đường tím vuông góc với d − c và đi qua trung điểm của đoạn [c, d]. Hàm affine aᵀx − b với a = d − c âm trên C và dương trên D.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo hai tập lại gần nhau. Đường phân tách xoay và dịch thế nào?
  2. Cho hai tập chạm nhau tại đúng một điểm. Lúc đó còn đường phân tách không, và nó có tách nghiêm ngặt không?

2. Chứng minh trong trường hợp tồn tại cặp điểm gần nhất ​

Ta bắt đầu bằng việc chứng minh định lý trong trường hợp trực quan nhất: Khi hai sở hữu một cặp điểm gần nhau nhất. Giả sử khoảng cách Euclid giữa hai :

dist(C,D)=inf{∥u−v∥2∣u∈C, v∈D}

là một số dương ngặt, và tồn tại hai điểm c∈C, d∈D đạt đúng khoảng cách cực tiểu này: ∥c−d∥2=dist(C,D)>0. Giả thiết này luôn được thỏa mãn khi C và D là hai tập đóng và ít nhất một trong hai tập bị chặn (tập compact).

Dựng siêu phẳng phân tách. Chọn pháp tuyến a=d−c và hệ số tự do b=∥d∥22−∥c∥222. Hàm affine tương ứng nhận biểu diễn:

f(x)=aTx−b=(d−c)T(x−12(d+c)).

Về hình học, siêu phẳng f(x)=0 vuông góc với đoạn thẳng [c,d] và đi qua chính xác trung điểm 12(c+d), tức là siêu phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm gần nhất.

Chứng minh f(u)≥0 với mọi u∈D. Giả sử phản chứng tồn tại điểm u∈D sao cho f(u)<0. Khai triển hàm affine tại u:

f(u)=(d−c)T(u−d)+12∥d−c∥22,

do đó điều kiện f(u)<0 kéo theo bất đẳng thức góc tù: (d−c)T(u−d)<0. Xét điểm biến thiên d(t)=d+t(u−d) nằm trên đoạn thẳng nối d và u với t∈[0,1]. Tính đạo hàm của bình phương khoảng cách từ d(t) tới điểm c tại t=0:

ddt∥d+t(u−d)−c∥22|t=0=2(d−c)T(u−d)<0.

Đạo hàm nhận giá trị âm chứng tỏ khi dịch chuyển một đoạn nhỏ từ d về phía u, khoảng cách tới c sẽ giảm nghiêm ngặt. Với t>0 đủ nhỏ, điểm d(t) nằm gần c hơn so với điểm d. Vì tập D lồi và chứa cả d,u nên điểm d(t) bắt buộc phải thuộc D. Điều này mâu thuẫn trực tiếp với giả thiết d là điểm của D gần tập C nhất.

Lập luận tương tự cho phép khẳng định f(x)≤0 với mọi x∈C.

Điểm mấu chốt sử dụng tính lồi nằm ở chỗ: Đoạn thẳng nối d và u phải nằm trọn trong D. Khi không tồn tại cặp điểm đạt khoảng cách cực tiểu (chẳng hạn hai tập mở hoặc không bị chặn), người ta sử dụng kỹ thuật tịnh tiến bằng cách xét tập hiệu Minkowski C−D={x−y∣x∈C, y∈D}. Tập C−D là một không chứa gốc tọa độ, quy bài toán về việc phân tách gốc tọa độ 0 khỏi một tập lồi.

3. Điều kiện phân tách nghiêm ngặt ​

Siêu phẳng trung trực dựng ở mục trên thỏa mãn điều kiện ngặt mạnh hơn: Cụ thể là aTx<b với mọi x∈C và aTx>b với mọi x∈D. Trạng thái này được gọi là phân tách nghiêm ngặt (strict separation). Tuy nhiên, không phải mọi cặp đóng rời nhau đều có thể phân tách nghiêm ngặt, ngay cả khi hai tập đều đóng nhưng không bị chặn.

Chẳng hạn trong R2, xét hai :

C={(x1,x2)∣x2≤0},D={(x1,x2)∣x1>0, x1x2≥1}.

Cả hai tập đều lồi, đóng và không giao nhau. Tuy nhiên khi hoành độ x1→∞, tung độ 1/x1→0, khoảng cách giữa hai tập tiệm cận về 0. Siêu phẳng duy nhất có thể phân tách chúng là trục hoành x2=0. Đường thẳng này tiếp xúc trực tiếp với biên của C, do đó không thể phân tách nghiêm ngặt.

Trường hợp nền tảng luôn bảo đảm phân tách nghiêm ngặt là: Một điểm nằm ngoài một đóng. Nếu C là tập lồi đóng và x0∉C, thì luôn tồn tại một hình cầu mở B(x0,ε) không giao với C. Khi đó siêu phẳng phân tách hình cầu mở này và tập C sẽ phân tách nghiêm ngặt điểm x0 khỏi C.

Hệ quả hình học: Mọi đóng C⊆Rn đều bằng giao của tất cả các nửa không gian đóng chứa nó. Thật vậy, giả sử tồn tại điểm x0 thuộc phần giao của mọi nửa không gian nhưng x0∉C. Áp dụng định lý phân tách nghiêm ngặt, tồn tại một nửa không gian đóng chứa trọn C nhưng không chứa x0, mâu thuẫn với giả thiết x0 thuộc phần giao. Kết quả khẳng định: Cấu trúc bên trong của một tập lồi đóng được xác định hoàn toàn bởi các mặt phẳng bao bọc bên ngoài.

4. Chiều ngược lại và định lý về giải pháp thay thế ​

Chiều ngược của định lý phân tách ("tồn tại siêu phẳng phân tách thì hai tập phải rời nhau") nói chung không đúng nếu không bổ sung điều kiện tô-pô. Chẳng hạn hai tập suy biến C=D={0} trong R cùng nằm trên siêu phẳng x=0, thỏa mãn điều kiện phân tách nhưng chúng trùng nhau. Tuy nhiên, nếu ít nhất một trong hai tập là tập mở, chiều ngược lại hoàn toàn chính xác.

Tổng hợp lại, ta có định lý tương đương: Hai , trong đó ít nhất một tập là tập mở, rời nhau khi và chỉ khi tồn tại một siêu phẳng phân tách chúng.

Ta có ứng dụng trực tiếp vào giải quyết hệ bất đẳng thức tuyến tính: Hệ bất đẳng thức ngặt Ax≺b (với A∈Rm×n) vô nghiệm khi và chỉ khi tập affine {b−Ax∣x∈Rn} không giao với nón mở các số dương R++m. Áp dụng định lý phân tách cho hai này, ta thu được kết quả: Hệ Ax≺b vô nghiệm khi và chỉ khi tồn tại λ∈Rm thỏa mãn đồng thời:

λ≠0,λ⪰0,ATλ=0,λTb≤0.

Hai hệ trên tạo thành một cặp giải pháp thay thế (theorem of alternatives): Với bất kỳ bộ dữ liệu A,b nào, đúng một và chỉ một trong hai hệ có nghiệm khả thi. Ý nghĩa thực tiễn là: Để chứng minh một bài toán tối ưu hoặc một hệ ràng buộc vô nghiệm, ta không cần phải duyệt qua không gian nghiệm vô hạn, mà chỉ cần cung cấp một chứng chỉ λ (certificate of infeasibility).

Ví dụ: Chứng chỉ vô nghiệm cho hệ một biến

Xét hệ bất đẳng thức x<1 và −x<−1 (tức x>1). Viết dưới dạng chuẩn Ax≺b với A=[1−1] và b=[1−1]. Chọn vector λ=(1,1)T, ta dễ dàng kiểm tra: λ≠0, λ⪰0, ATλ=1−1=0 và λTb=1−1=0≤0.

Cơ chế hoạt động của chứng chỉ: Lấy tổ hợp tuyến tính các bất đẳng thức với trọng số λ dẫn tới λTAx<λTb⟺0<0, tạo ra một mâu thuẫn số học tuyệt đối.

5. Siêu phẳng tựa ​

Định lý phân tách có một phiên bản giới hạn khi tập thứ hai thu về một điểm biên duy nhất:

Định nghĩa. Cho C⊆Rn và điểm x0 thuộc biên của C. Nếu tồn tại a≠0 sao cho aTx≤aTx0 với mọi x∈C, thì siêu phẳng H={x∈Rn∣aTx=aTx0} được gọi là một siêu phẳng tựa (supporting hyperplane) của C tại điểm x0.

Về mặt trực giác, siêu phẳng tựa tiếp xúc với tập C tại điểm biên x0 và giữ toàn bộ tập C nằm trọn vẹn ở một phía của nó. Khi biên trơn khả vi tại x0, siêu phẳng tựa trùng khớp với mặt phẳng tiếp diện. Khi x0 là một điểm góc nhọn hoặc điểm kỳ dị, tồn tại một hình nón gồm vô số siêu phẳng tựa tựa vào điểm đó.

Định lý siêu phẳng tựa. Nếu C là một khác rỗng thì tại mọi điểm x0 nằm trên biên của C luôn tồn tại ít nhất một siêu phẳng tựa.

Chứng minh dựa vào việc áp dụng định lý phân tách giữa điểm biên {x0} và phần trong tương đối relintC. Chiều ngược lại cũng đúng dưới giả thiết tô-pô: Một tập đóng có phần trong khác rỗng là khi và chỉ khi nó có siêu phẳng tựa tại mọi điểm biên.

Siêu phẳng tựa tại một điểm biên

ax₀

x₀ = (−0.39, −1.84) nằm trên một cạnh. Ở đây chỉ có đúng một siêu phẳng tựa, chứa cả cạnh đó.

Pháp tuyến a = (−0.13, −0.99). Mọi đỉnh của đa giác thỏa aᵀx ≤ aᵀx₀: đúng.

Gợi ý thao tác
  1. Đưa x₀ tới giữa một cạnh, rồi tới một đỉnh. Số siêu phẳng tựa thay đổi thế nào?
  2. Ở một đỉnh, kéo thanh chọn pháp tuyến tới hai đầu. Hai đường tựa giới hạn trùng với gì?

Siêu phẳng tựa là chìa khóa hình học giải bài toán tối ưu tuyến tính trên : Bài toán tìm cực đại của dạng tuyến tính aTx trên tập C tương đương với việc tịnh tiến siêu phẳng có pháp tuyến a theo hướng đó cho đến khi nó trở thành siêu phẳng tựa tiếp xúc với tập C tại điểm x0. Điểm tiếp xúc x0 chính là nghiệm tối ưu toàn cục. Đây cũng là lý do vì sao trong hồi quy Lasso (chuẩn ℓ1), siêu phẳng mức tiếp xúc với quả cầu ℓ1 tại các đỉnh trên trục tọa độ, tạo ra các nghiệm thưa (sparse solutions).

6. Phân loại tuyến tính và máy vector hỗ trợ (SVM) ​

Xét bài toán học máy phân loại nhị phân với hai tập điểm dữ liệu {x1,…,xN} (nhãn dương) và {y1,…,yM} (nhãn âm). Ta tìm kiếm một siêu phẳng phân lớp f(x)=aTx−b=0 sao cho f(xi)>0 và f(yj)<0. Câu trả lời giải tích bắt nguồn trực tiếp từ định lý phân tách: Hai tập dữ liệu phân tách được bằng một siêu phẳng tuyến tính khi và chỉ khi hai của chúng không giao nhau, tức là:

conv{x1,…,xN}∩conv{y1,…,yM}=∅.

Trường hợp kinh điển minh họa cho sự vi phạm điều kiện này là bài toán logic XOR: Lớp thứ nhất gồm hai điểm (0,0) và (1,1), lớp thứ hai gồm hai điểm (1,0) và (0,1). Hai tương ứng chính là hai đường chéo của hình vuông đơn vị, và chúng giao nhau tại tâm (12,12). Do đó không tồn tại bất kỳ hàm tuyến tính nào có thể phân tách hai lớp điểm này, đặt ra yêu cầu phải sử dụng các đặc trưng phi tuyến hoặc kiến trúc mạng nơ-ron nhiều tầng.

Khi hai lớp dữ liệu phân tách tuyến tính được, một hướng tiếp cận tự nhiên là tìm siêu phẳng phân cách đạt độ mở lề lớn nhất (maximum margin), tức khoảng cách từ siêu phẳng tới các điểm dữ liệu gần nhất ở cả hai phía đạt cực đại. Bề rộng của lề tối ưu bằng đúng khoảng cách Euclid giữa hai . Siêu phẳng phân cách tối ưu chính là mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm gần nhất giữa hai bao lồi, hoàn toàn trùng khớp với cách dựng trong chứng minh ở mục 2. Đây chính là bản chất toán học của thuật toán Support Machine (SVM) lề cứng.

Tách hai lớp dữ liệu với lề lớn nhất

Hai bao lồi cách nhau 3.39. Đường tím là trung trực của đoạn nối hai điểm gần nhất, và dải giữa hai đường nét đứt có bề rộng bằng đúng khoảng cách đó.

Theo §8.6.1 của sách, đây là đường tách có lề lớn nhất: lề (một nửa bề rộng dải) bằng 1.70.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo một điểm vuông vào bên trong bao lồi của lớp tròn. Điều gì xảy ra?
  2. Những điểm nào thật sự quyết định vị trí đường tách? Thử kéo một điểm nằm xa đường tách.

Trong mô hình SVM, chỉ những điểm dữ liệu nằm trên biên của lề (các điểm cực biên của quyết định khoảng cách giữa hai tập) mới có trọng số Lagrange khác không. Chúng được gọi là các hỗ trợ (support vectors), trong khi các điểm dữ liệu nằm sâu bên trong cụm hoàn toàn không ảnh hưởng tới vị trí của ranh giới phân lớp.

7. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Định lý phân tách có còn đúng không nếu chỉ một trong hai là ? Hãy nêu một ví dụ phản chứng cụ thể.

Xem lời giải thích

Định lý sẽ không còn đúng. Xét trong R2, chọn C là hình tròn đơn vị đóng {x∣∥x∥2≤1} và tập không lồi D là hình vành khăn {x∣2≤∥x∥2≤3}. Rõ ràng hai này không giao nhau. Tuy nhiên, vì vành khăn D bao bọc hoàn toàn hình tròn C theo mọi hướng không gian, bất kỳ đường thẳng nào để C nằm trọn về một phía đều cắt qua vành khăn D. Do đó không tồn tại bất kỳ siêu phẳng phân tách nào. Định lý bắt buộc cả hai tập hợp đều phải là tập lồi.

Câu 2. Trong chứng minh ở mục 2, nếu ta đổi dấu pháp tuyến thành a=c−d, siêu phẳng phân tách thay đổi như thế nào?

Xem lời giải thích

Việc đổi dấu pháp tuyến và hệ số tự do chỉ làm đảo ngược dấu của hàm affine mà không làm thay đổi vị trí hình học của siêu phẳng phân tách: Khi đó ta có aTx≥b trên C và aTx≤b trên D. Siêu phẳng vẫn phân tách trọn vẹn hai . Điều này giải thích vì sao định lý chỉ khẳng định sự tồn tại của vector a≠0 mà không quy định chiều định hướng.

Câu 3. Liệu có thể phân tách nghiêm ngặt hai đóng, rời nhau mà cả hai đều không bị chặn hay không?

Xem lời giải thích

Hoàn toàn có thể. Xét hai nửa mặt phẳng đóng C={x∈R2∣x2≤0} và D={x∈R2∣x2≥1}. Cả hai tập đều đóng, không bị chặn và rời nhau. Đường thẳng x2=12 phân tách nghiêm ngặt hai này. Yếu tố cốt lõi để bảo đảm phân tách nghiêm ngặt không phải là tính bị chặn, mà là khoảng cách Euclid giữa hai tập phải dương ngặt dist(C,D)>0.

Câu 4. Trong bài toán XOR, nếu ta đưa thêm một đặc trưng phi tuyến bậc hai x3=x1x2, dữ liệu có phân tách được bằng một siêu phẳng tuyến tính trong R3 không?

Xem lời giải thích

Hoàn toàn phân tách được. Sau khi chiếu vào R3, bốn điểm dữ liệu trở thành (0,0,0)T và (1,1,1)T cho lớp thứ nhất, cùng (1,0,0)T và (0,1,0)T cho lớp thứ hai. Chọn hàm affine f(x)=x1+x2−2x3−12, ta nhận thấy f(x)=−12<0 trên toàn bộ lớp thứ nhất và f(x)=12>0 trên toàn bộ lớp thứ hai. Siêu phẳng x1+x2−2x3=12 phân tách hoàn hảo hai lớp dữ liệu. Đây chính là nguyên lý cốt lõi của phương pháp Kernel trong học máy.

8. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Dựng siêu phẳng phân tách giữa hai hình tròn

Cho hai hình tròn đóng trong mặt phẳng: Cụ thể là C={x∈R2∣∥x∥2≤1} và D={x∈R2∣∥x−(4,3)T∥2≤2}. Hãy xác định cặp điểm gần nhất giữa hai tập và phương trình siêu phẳng phân tách tương ứng.

Lời giải

Khoảng cách giữa hai tâm là 42+32=5, lớn hơn tổng hai bán kính 1+2=3, do đó hai hình tròn rời nhau. đơn vị hướng từ tâm của C sang tâm của D là u=(0.8,0.6)T.

Cặp điểm đạt khoảng cách cực tiểu giữa hai tập được xác định cụ thể:

  • c=1⋅u=(0.8,0.6)T∈C,
  • d=(4,3)T−2u=(2.4,1.8)T∈D.

pháp tuyến là a=d−c=(1.6,1.2)T, và hệ số tự do là b=∥d∥22−∥c∥222=9−12=4. Phương trình siêu phẳng phân tách là 1.6x1+1.2x2=4, tương đương với 4x1+3x2=10.

Bài tập 2: Chứng chỉ vô nghiệm

Hãy chứng minh hệ bất đẳng thức x1+x2<1, x1>1, x2>0 vô nghiệm bằng cách thiết lập một nhân tử Lagrange λ theo định lý về giải pháp thay thế.

Lời giải

Viết lại hệ dưới dạng chuẩn Ax≺b:

  • x1+x2<1,
  • −x1<−1,
  • −x2<0.

hệ số và vế phải là:

A=[11−100−1],b=[1−10].

Chọn nhân tử λ=(1,1,1)T≥0. Ta kiểm tra:

ATλ=[1−1+01+0−1]=[00],λTb=1−1+0=0≤0.

Nhân các bất đẳng thức với trọng số λ và cộng lại, ta thu được bất đẳng thức mâu thuẫn 0<0. Vậy hệ ràng buộc vô nghiệm.

Bài tập 3: Siêu phẳng tựa của hình vuông chuẩn ℓ∞

Xác định toàn bộ các siêu phẳng tựa của hình vuông đơn vị {x∈R2∣∥x∥∞≤1} tại điểm biên x0=(1,0.5)T và tại đỉnh cực biên x1=(1,1)T.

Lời giải

Tại điểm x0=(1,0.5)T nằm trên cạnh phải x1=1, siêu phẳng tựa là duy nhất và có phương trình x1=1 (với pháp tuyến tỷ lệ với (1,0)T).

Tại đỉnh x1=(1,1)T, mọi pháp tuyến dạng a=(α,β)T với α≥0,β≥0 không đồng thời bằng 0 đều sinh ra một siêu phẳng tựa có phương trình αx1+βx2=α+β, vì trên toàn bộ hình vuông ta luôn có αx1+βx2≤α+β. Chùm siêu phẳng tựa này lấp đầy góc phần tư thứ nhất của không gian đối ngẫu.

Tóm tắt ​

Hai khác rỗng rời nhau luôn tồn tại ít nhất một siêu phẳng phân tách chúng. Khi khoảng cách giữa hai tập đạt cực tiểu tại một cặp điểm, siêu phẳng phân tách chính là mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai điểm đó. Mọi tập lồi đóng đều bằng giao của toàn bộ các nửa không gian đóng chứa nó, tạo nên nền tảng cho lý thuyết đối ngẫu.

Định lý về giải pháp thay thế cung cấp chứng chỉ đại số hữu hạn để xác minh tính vô nghiệm của hệ bất đẳng thức. Tại mọi điểm biên của một luôn tồn tại siêu phẳng tựa, liên kết trực tiếp với nghiệm của bài toán quy hoạch tuyến tính. Trong học máy, hai tập dữ liệu phân tách tuyến tính được khi và chỉ khi hai của chúng không giao nhau, và siêu phẳng lề cực đại của máy hỗ trợ (SVM) chính là siêu phẳng trung trực nối hai bao lồi.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to