Giao diện
Có những bài toán không lồi trong biến gốc của chúng, nhưng trở thành lồi khi ta đo mọi đại lượng theo thang logarit. Quy hoạch hình học (geometric program, GP) là họ bài toán quan trọng nhất thuộc loại này. Nó xuất hiện tự nhiên trong thiết kế kỹ thuật, nơi các đại lượng như kích thước, công suất, thời gian trễ thường dương và liên hệ với nhau qua những tích và lũy thừa.
Bài giảng này thiết lập nền tảng lý thuyết cho GP: Khái niệm monomial, posynomial, phép đổi biến logarit
1. Monomial và posynomial
Một hàm
được gọi là một monomial. Số mũ có thể là số thực bất kỳ, kể cả phân số hay số âm, nhưng hệ số
được gọi là một posynomial. Chẳng hạn
Các phép toán khép kín là điều làm hai họ hàm này rất linh hoạt trong ứng dụng. Tổng, tích và tích với hằng số dương của các posynomial là posynomial. Tích và thương của các monomial là monomial. Chia một posynomial cho một monomial được một posynomial. Chẳng hạn
2. Quy hoạch hình học
Một quy hoạch hình học ở dạng chuẩn là bài toán
với
Nhiều ràng buộc trông khác dạng chuẩn vẫn đưa về được nhờ các phép toán khép kín. Ràng buộc "posynomial
3. Đổi sang thang logarit
GP không lồi trong biến
hàm mũ của một hàm affine, và một posynomial trở thành tổng các hàm mũ của những hàm affine,
Mỗi hàm
Về hình học, một đoạn thẳng trong biến
Đổi sang thang logarit
Bên trái là tập trong biến gốc x, bên phải là cùng tập ấy sau phép đổi biến y = log x. Đoạn thẳng nối hai điểm bên phải ứng với đường trung bình nhân bên trái.
tập (hoặc biên của tập)đoạn thẳng trong biến xđoạn thẳng trong biến log x
Hai điểm p = (0.16, 2.56) và q = (2.56, 0.16) đều thuộc tập.
Trung điểm cộng (1.36, 1.36) không thuộc tập: trong biến x, tập không lồi.
Trung bình nhân (0.64, 0.64) thuộc tập. Nó là trung điểm của đoạn thẳng trong biến log x, nơi tập là lồi.
Gợi ý thao tác
- Với tập √x₁ + √x₂ ≤ 2, vì sao đoạn thẳng đỏ đi ra ngoài tập, còn đường xanh thì không?
- Với x₁x₂ = 1, tập là một đường cong trong biến x. Trong biến log x nó trở thành gì, và vì sao ràng buộc đẳng thức monomial là "affine trá hình"?
- Với bài toán áp phích, so sánh hình dạng tập mức của hàm mục tiêu ở hai bên. Bên nào cho thấy bài toán là lồi?
Nếu mọi posynomial trong GP chỉ có một số hạng, tức đều là monomial, thì sau khi lấy logarit, mọi hàm đều affine và GP dạng lồi là một LP. Vì vậy có thể xem GP là một mở rộng của quy hoạch tuyến tính.
4. Ví dụ: Thiết kế một tấm áp phích
Ví dụ thiết kế: Một tấm áp phích cần phần chữ có diện tích ít nhất
Khai triển hàm mục tiêu cho posynomial
Nghiệm có thể tìm tay. Tại nghiệm, ràng buộc chặt, nên
5. Ví dụ: Cân bằng một ma trận
Xét bài toán điều hòa thang đo (diagonal scaling): Cho ma trận
Đây là một posynomial theo
Ví dụ: Xét cụ thể
Một hướng phát triển sâu sắc là bài toán cực tiểu hóa bán kính phổ của dương: Trị riêng Perron–Frobenius có thể được cực tiểu hóa bằng GP khi các phần tử ma trận là posynomial của các thiết kế. Mô hình này được áp dụng trực tiếp để tối ưu hóa sự suy giảm của quần thể sinh học hoặc phân bổ liều lượng điều trị trong dược động học.
6. Những câu hỏi để đào sâu
Câu 1. Giả sử ta cho phép hệ số âm, chẳng hạn ràng buộc
Xem lời giải thích
Bước lấy logarit cần các hàm dương. Một monomial với
Câu 2. Một posynomial có lồi theo biến gốc
Xem lời giải thích
Có khi có, có khi không. Hàm
Câu 3. Trong ví dụ áp phích, vì sao tỉ lệ cạnh của phần chữ tối ưu lại đúng bằng tỉ lệ lề? Hãy chứng minh cho lề tổng quát
Xem lời giải thích
Với ràng buộc chặt
Câu 4. GP có biến ngầm điều kiện
Xem lời giải thích
Không đưa trực tiếp được vào GP, vì
7. Bài tập tự luyện
Bài tập 1: Nhận diện
Hàm nào sau đây là monomial, posynomial, hay không phải cả hai, trên
Lời giải
(a) Monomial, hệ số
Bài tập 2: Viết và giải một GP
Viết bài toán cực tiểu
Gợi ý
Ở nghiệm, ràng buộc
Lời giải
Dạng chuẩn: Cực tiểu
Bài tập 3: Cân bằng ma trận
Cân bằng
Lời giải
Cực tiểu
Tóm tắt
Monomial là tích các lũy thừa thực của biến với hệ số dương, posynomial là tổng các monomial. Quy hoạch hình học cực tiểu một posynomial với các ràng buộc posynomial
GP xuất hiện trong thiết kế, như bài toán áp phích có nghiệm
Tài liệu tham khảo
- Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.