Giao diện
Cùng một bài toán có thể được viết theo nhiều cách. Người này đo sai số bằng , người kia đo bằng bình phương của nó. Người này hóa độ lệch chuẩn bằng
Mỗi phép biến đổi như thế đi kèm hai câu hỏi. Thứ nhất, lời giải có được bảo toàn không, nghĩa là từ nghiệm của bài toán mới có lấy lại được nghiệm của bài toán cũ không? Thứ hai, tính lồi có được bảo toàn không? Trang này cho thấy hai câu hỏi ấy độc lập với nhau: Có những phép biến đổi giữ nguyên nghiệm nhưng phá hỏng tính lồi, và ngược lại, có những phép biến đổi làm tính lồi hiện ra từ một bài toán trông không lồi chút nào. Kiến thức tiên quyết cần nắm vững gồm dạng chuẩn của bài toán tối ưu và bài toán lồi ở dạng chuẩn từ Lecture 01.
1. Hai bài toán tương đương
Ta tiếp cận khái niệm tương đương một cách trực quan và thực chất: Hai bài toán được gọi là tương đương nếu từ một nghiệm của bài toán này, ta dễ dàng tìm được một nghiệm của bài toán kia, và ngược lại. Thay vì sa đà vào các định nghĩa hình thức rườm rà, nhãn quan tương đương này giúp ta nhìn thấu bản chất biến đổi mô hình.
Ví dụ đơn giản nhất là phép co giãn. Nhân hàm mục tiêu và các hàm ràng buộc bất đẳng thức với những hằng số dương
không thay đổi, vì
Khác biệt nhỏ ấy có hệ quả thật. Nhân hàm mục tiêu với 1000 không đổi nghiệm, nhưng làm gradient lớn lên 1000 lần, nên một thuật toán gradient với bước cố định có thể đang hội tụ bỗng phân kỳ. Sự phân biệt "tương đương nhưng không giống nhau" sẽ còn trở lại suốt trang này, vì hầu hết các phép biến đổi đều giữ nghiệm nhưng thay đổi một thứ khác: Khi thì giá trị tối ưu, khi thì tính khả vi, khi thì chính tính lồi.
2. Đổi biến
Giả sử
Điều đáng chú ý là phép đổi biến có thể làm tính lồi xuất hiện, hoặc làm nó biến mất. Hãy xét bài toán ước lượng độ lệch chuẩn
Đạo hàm cấp hai
Lần này
Cùng một hàm, hai cách đo trục hoành
Bên trái là âm log-likelihood theo độ lệch chuẩn σ, bên phải là cùng hàm đó theo s = log σ. Hai đồ thị cho cùng giá trị tại các điểm tương ứng, nhưng chỉ một đồ thị là hàm lồi.
điểm đang chọn, σ = e^sdây cung giữa σ = 1.9σ* và σ = 2.8σ*vùng f lõm
n = 5, σ = e^s = 1.350. Giá trị hai bên bằng nhau: f(σ) = g(s) = 6.988.
f″(σ) = 15.328, còn g″(s) = 21.952 > 0.
Hai nghiệm tương ứng nhau: σ* = √(S/n) = 2.000 và s* = log σ* = 0.693, cùng giá trị tối ưu 5.966. Hàm f lõm khi σ > √(3S/n) ≈ 3.46.
Ở bên trái, trung điểm dây cung thấp hơn đồ thị, nên f không lồi. Cùng hai điểm ấy, dây cung bên phải nằm trên đồ thị g.
Gợi ý thao tác
- Kéo s qua lại. Vì sao chấm tím ở hai bên luôn có cùng độ cao?
- Đặt σ vào vùng tô đỏ. Dấu của f″ cho biết gì, và g″ tại điểm tương ứng thì sao?
- Tăng S. Nghiệm σ* và ranh giới của vùng lõm dịch chuyển thế nào, và tỉ số giữa chúng có đổi không?
- Bật dây cung. Hai đầu dây cung bên phải là ảnh của hai đầu dây cung bên trái. Phép đổi biến đã làm gì với độ cong?
Chiều ngược lại cũng xảy ra. Một phép đổi biến không affine có thể phá hỏng tính lồi của một bài toán vốn lồi, và Câu 2 ở cuối trang cho thấy nó còn có thể sinh ra những điểm dừng không hề có trong bài toán gốc. Vì thế khi đổi biến, ta luôn phải kiểm tra lại tính lồi trong biến mới, chứ không thừa hưởng nó từ biến cũ.
3. Biến đổi hàm mục tiêu và hàm ràng buộc
Thay vì đổi biến, ta có thể bọc từng hàm trong một hàm một biến. Giả sử
Xét bài toán so sánh kinh điển: Cực tiểu
Với ràng buộc, điều kiện đặt lên
4. Biến bù
Một bất đẳng thức có thể được thay bằng một đẳng thức cộng thêm một điều kiện không âm: Ta có
với biến
Về tính lồi thì khác. Ràng buộc đẳng thức trong một bài toán lồi phải affine, nên phép thêm biến bù chỉ giữ tính lồi khi
5. Dạng epigraph
Bài toán gốc tương đương với bài toán
với biến
Nếu bài toán gốc lồi thì dạng cũng lồi: Hàm mục tiêu
Phép biến đổi này đặc biệt hữu ích khi hàm mục tiêu là một giá trị lớn nhất. Bài toán cực tiểu
6. Ràng buộc ẩn và ràng buộc tường minh
Có một mẹo ký hiệu cho phép giấu mọi ràng buộc vào hàm mục tiêu. Định nghĩa
Chiều ngược lại hữu ích hơn. Nhiều bài toán chứa những ràng buộc ẩn nằm trong miền xác định của hàm. Hàm
7. Viết lại để tính lồi hiện ra
Tối ưu hóa lồi đòi hỏi một định nghĩa chặt chẽ về mặt hình thức: Không chỉ là việc cực tiểu một trên một , mà bắt buộc phải được mô tả tường minh bằng các bất đẳng thức của hàm lồi và các đẳng thức affine. Chủ đề cực tiểu cục bộ và toàn cục của Lecture 01 đã phân tích ví dụ tiêu biểu với ràng buộc
Có hai giới hạn cần nhớ. Thứ nhất, khi chính không lồi, không cách viết nào giữ nguyên biến làm nó lồi được. Ràng buộc
8. Tương đương, nới lỏng và xấp xỉ
Không phải phép biến đổi nào cũng tương đương, và hai loại phép biến đổi thường bị nhầm với tương đương là và xấp xỉ.
mở rộng từ
nên giá trị tối ưu của bài toán là một cận dưới cho bài toán gốc. Nghiệm của bài toán nới lỏng thì có thể không thỏa ràng buộc cũ. Chẳng hạn, bài toán cực tiểu
Xấp xỉ thay một hàm bằng một hàm khác dễ tính hơn, chẳng hạn khai triển bậc nhất quanh một điểm. Một xấp xỉ chỉ có ích khi ta nói được hai hàm gần nhau ở đâu và sai số được đo bằng đại lượng nào. Bản thân chữ "xấp xỉ" không cho biết nó là cận trên hay cận dưới, nên không thể dùng nó để chứng nhận một nghiệm.
9. Những câu hỏi để đào sâu
Câu 1. Thay hàm mục tiêu
Xem lời giải thích
Còn tùy giá trị tối ưu
Câu 2. Nhằm khử ràng buộc
Xem lời giải thích
Về nghiệm thì không sai: Ánh xạ
Câu 3. Ở mục 4, bài toán dùng biến bù cho ràng buộc
Xem lời giải thích
Đó là tính chất gắn liền với cách viết toán học cụ thể. Hai bài toán tương đương có cùng nghiệm, nhưng một cách viết có thể đáp ứng các điều kiện của dạng chuẩn lồi trong khi cách kia không. Điều này nghe như một chi tiết hình thức, nhưng nó phản ánh một sự thật thực tế. Các thuật toán và các định lý đều làm việc với một cách viết cụ thể, chẳng hạn định lý cực tiểu cục bộ là toàn cục cần hàm mục tiêu lồi theo đúng biến đang được tối ưu. Vì vậy nghệ thuật của mô hình hóa là tìm một cách viết tương đương mà tính lồi hiện rõ, chứ không chỉ tin rằng bài toán "về bản chất" là lồi.
Câu 4. Nhân hàm mục tiêu với 1000 làm phương pháp gradient với bước cố định hành xử khác hẳn. Phương pháp Newton thì sao?
Xem lời giải thích
Phương pháp Newton không bị ảnh hưởng. Bước Newton là
Câu 5. Bài toán cực tiểu
Xem lời giải thích
Không. Dạng là cực tiểu
10. Bài tập tự luyện
Bài tập 1: Hai cách tham số hóa độ lệch chuẩn
Với
Gợi ý
Ở câu (b), tính đạo hàm cấp hai rồi thử một giá trị
Lời giải
(a)
Bài tập 2: Dạng epigraph của một giá trị lớn nhất
Viết bài toán cực tiểu
Lời giải
Dạng là cực tiểu
Bài tập 3: Biến bù
Xét tập các điểm
Lời giải
Tập mới gồm các
Tóm tắt
Hai bài toán tương đương nếu nghiệm của bài toán này cho ngay nghiệm của bài toán kia và ngược lại. Các phép biến đổi cơ bản gồm co giãn, đổi biến một-một, bọc hàm mục tiêu trong một hàm tăng ngặt và bọc ràng buộc trong một hàm giữ dấu, thêm biến bù, chuyển sang dạng , và chuyển ràng buộc giữa dạng ẩn với dạng tường minh. Tất cả đều giữ nghiệm, nhưng có thể thay đổi giá trị tối ưu, tính khả vi hay tính lồi.
Tính lồi là tính chất của cách viết. Đổi biến qua hàm mũ có thể làm một bài toán không lồi trở thành lồi, còn đổi biến không affine hay thêm biến bù cho ràng buộc phi tuyến có thể làm mất tính lồi. Dạng thì luôn giữ tính lồi và cho thấy mọi bài toán lồi đều viết được với hàm mục tiêu tuyến tính. Cuối cùng, chỉ cho một cận, còn xấp xỉ chỉ có ích khi đo được sai số, nên cả hai đều không phải phép biến đổi tương đương.
Tài liệu tham khảo
- Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.