Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Bài toán tương đương và các phép biến đổi cơ bản

Chủ đề 1 / 19
  1. 1. Bài toán tương đương và các phép biến đổi cơ bản
  2. 2. Khử ràng buộc đẳng thức và tối ưu theo từng nhóm biến
  3. 3. Hàm tựa lồi và phương pháp chia đôi
  4. 4. Quy hoạch tuyến tính: Các dạng viết và hình học của nghiệm
  5. 5. Những bài toán trở thành LP
  6. 6. Quy hoạch phân tuyến tính
  7. 7. Quy hoạch toàn phương và QCQP
  8. 8. Quy hoạch nón bậc hai và LP bền vững
  9. 9. Quy hoạch hình học
  10. 10. Bài toán dạng nón và quy hoạch nửa xác định
  11. 11. Phần bù Schur và các bài toán về trị riêng
  12. 12. Tối ưu vector, điểm Pareto và đường đánh đổi
  13. 13. Khớp hàm, làm mượt spline và nội suy lồi
  14. 14. Ước lượng phi tham số và thiết kế bộ phát hiện
  15. 15. Cận xác suất Chebyshev, Chernoff và tối ưu hóa ma trận
  16. 16. Quy hoạch mặt bằng và phân bổ không gian tối ưu
  17. 17. Thiết kế thí nghiệm tối ưu và Ma trận thông tin Fisher
  18. 18. Ellipsoid thể tích cực trị và Các điểm tâm hình học
  19. 19. Bài toán định vị, đặt vị trí và tối ưu hóa mạng lưới

Cùng một bài toán có thể được viết theo nhiều cách. Người này đo sai số bằng , người kia đo bằng bình phương của nó. Người này hóa độ lệch chuẩn bằng σ, người kia bằng log⁡σ. Trong khi đó, phần mềm giải tối ưu chỉ nhận một vài dạng nhất định, nên một phần lớn công việc của người lập mô hình là biến bài toán mình đang có thành bài toán mà công cụ giải được.

Mỗi phép biến đổi như thế đi kèm hai câu hỏi. Thứ nhất, lời giải có được bảo toàn không, nghĩa là từ nghiệm của bài toán mới có lấy lại được nghiệm của bài toán cũ không? Thứ hai, tính lồi có được bảo toàn không? Trang này cho thấy hai câu hỏi ấy độc lập với nhau: Có những phép biến đổi giữ nguyên nghiệm nhưng phá hỏng tính lồi, và ngược lại, có những phép biến đổi làm tính lồi hiện ra từ một bài toán trông không lồi chút nào. Kiến thức tiên quyết cần nắm vững gồm dạng chuẩn của bài toán tối ưu và bài toán lồi ở dạng chuẩn từ Lecture 01.

1. Hai bài toán tương đương ​

Ta tiếp cận khái niệm tương đương một cách trực quan và thực chất: Hai bài toán được gọi là tương đương nếu từ một nghiệm của bài toán này, ta dễ dàng tìm được một nghiệm của bài toán kia, và ngược lại. Thay vì sa đà vào các định nghĩa hình thức rườm rà, nhãn quan tương đương này giúp ta nhìn thấu bản chất biến đổi mô hình.

Ví dụ đơn giản nhất là phép co giãn. Nhân hàm mục tiêu và các hàm ràng buộc bất đẳng thức với những hằng số dương αi>0, nhân các hàm ràng buộc đẳng thức với những hằng số khác không βi≠0, ta được

minimizeα0f0(x)subject toαifi(x)≤0,i=1,…,m,subject toβihi(x)=0,i=1,…,p.

không thay đổi, vì αifi(x) cùng dấu với fi(x), còn βihi(x)=0 khi và chỉ khi hi(x)=0. Một điểm tối ưu cho bài toán này cũng tối ưu cho bài toán kia. Thế nhưng hai bài toán không giống nhau: Giá trị tối ưu bị nhân với α0, và các hàm đã là những hàm khác.

Khác biệt nhỏ ấy có hệ quả thật. Nhân hàm mục tiêu với 1000 không đổi nghiệm, nhưng làm gradient lớn lên 1000 lần, nên một thuật toán gradient với bước cố định có thể đang hội tụ bỗng phân kỳ. Sự phân biệt "tương đương nhưng không giống nhau" sẽ còn trở lại suốt trang này, vì hầu hết các phép biến đổi đều giữ nghiệm nhưng thay đổi một thứ khác: Khi thì giá trị tối ưu, khi thì tính khả vi, khi thì chính tính lồi.

2. Đổi biến ​

Giả sử ϕ:Rn→Rn là một ánh xạ một-một, và ảnh của nó phủ kín miền D của bài toán. Thay x=ϕ(z) vào mọi hàm, ta được các hàm mới f~i(z)=fi(ϕ(z)) và h~i(z)=hi(ϕ(z)), và một bài toán với biến z. Hai bài toán tương đương: Nếu x là nghiệm của bài toán gốc thì z=ϕ−1(x) là nghiệm của bài toán mới, và nếu z là nghiệm của bài toán mới thì x=ϕ(z) là nghiệm của bài toán gốc. Hai điều kiện đặt lên ϕ đều có lý do. Tính một-một bảo đảm mỗi x ứng với đúng một z, còn điều kiện phủ miền bảo đảm không có nào bị bỏ sót.

Điều đáng chú ý là phép đổi biến có thể làm tính lồi xuất hiện, hoặc làm nó biến mất. Hãy xét bài toán ước lượng độ lệch chuẩn σ của một phân phối Gauss đã biết trung bình. Với n quan sát và S là tổng bình phương độ lệch của chúng so với trung bình, âm log-likelihood (bỏ đi hằng số) là

f(σ)=nlog⁡σ+S2σ2,σ>0.

Đạo hàm cấp hai f″(σ)=−nσ2+3Sσ4 âm khi σ>3S/n, nên f không phải . Với n=5 và S=20, hàm f cong xuống trên cả khoảng σ>12≈3.46. Bây giờ đặt σ=es, tức s=log⁡σ. Ánh xạ s↦es là một-một từ R lên (0,∞), đúng bằng miền của bài toán, và hàm mục tiêu mới là

g(s)=f(es)=ns+S2e−2s.

Lần này g″(s)=2Se−2s>0 với mọi s, nên g lồi. Phương trình g′(s)=n−Se−2s=0 cho e2s=S/n, tức σ⋆=S/n, đúng là ước lượng hợp lý cực đại quen thuộc của độ lệch chuẩn. Với số liệu trên, σ⋆=2 và s⋆=log⁡2≈0.693, và hai bài toán có cùng giá trị tối ưu, khoảng 5.966, vì f(es)=g(s) tại mọi điểm. Cách hóa qua log⁡σ vì thế rất tiện khi một mô hình phải học cả phương sai: Ràng buộc σ>0 biến mất, và trong ví dụ này, hàm mục tiêu còn trở nên lồi.

Cùng một hàm, hai cách đo trục hoành

Bên trái là âm log-likelihood theo độ lệch chuẩn σ, bên phải là cùng hàm đó theo s = log σ. Hai đồ thị cho cùng giá trị tại các điểm tương ứng, nhưng chỉ một đồ thị là hàm lồi.

1246theo σ-1012theo s = log σ

điểm đang chọn, σ = e^sdây cung giữa σ = 1.9σ* và σ = 2.8σ*vùng f lõm

n = 5, σ = e^s = 1.350. Giá trị hai bên bằng nhau: f(σ) = g(s) = 6.988.

f″(σ) = 15.328, còn g″(s) = 21.952 > 0.

Hai nghiệm tương ứng nhau: σ* = √(S/n) = 2.000 và s* = log σ* = 0.693, cùng giá trị tối ưu 5.966. Hàm f lõm khi σ > √(3S/n) ≈ 3.46.

Ở bên trái, trung điểm dây cung thấp hơn đồ thị, nên f không lồi. Cùng hai điểm ấy, dây cung bên phải nằm trên đồ thị g.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo s qua lại. Vì sao chấm tím ở hai bên luôn có cùng độ cao?
  2. Đặt σ vào vùng tô đỏ. Dấu của f″ cho biết gì, và g″ tại điểm tương ứng thì sao?
  3. Tăng S. Nghiệm σ* và ranh giới của vùng lõm dịch chuyển thế nào, và tỉ số giữa chúng có đổi không?
  4. Bật dây cung. Hai đầu dây cung bên phải là ảnh của hai đầu dây cung bên trái. Phép đổi biến đã làm gì với độ cong?

Chiều ngược lại cũng xảy ra. Một phép đổi biến không affine có thể phá hỏng tính lồi của một bài toán vốn lồi, và Câu 2 ở cuối trang cho thấy nó còn có thể sinh ra những điểm dừng không hề có trong bài toán gốc. Vì thế khi đổi biến, ta luôn phải kiểm tra lại tính lồi trong biến mới, chứ không thừa hưởng nó từ biến cũ.

3. Biến đổi hàm mục tiêu và hàm ràng buộc ​

Thay vì đổi biến, ta có thể bọc từng hàm trong một hàm một biến. Giả sử ψ0 tăng ngặt, mỗi ψi với i=1,…,m thỏa ψi(u)≤0 khi và chỉ khi u≤0, và mỗi ψm+i thỏa ψm+i(u)=0 khi và chỉ khi u=0. Thay fi bằng ψi∘fi và hi bằng ψm+i∘hi, ta được một bài toán có cùng và cùng tập nghiệm với bài toán gốc. Phép co giãn ở mục 1 chỉ là trường hợp riêng khi mọi ψi tuyến tính.

Xét bài toán so sánh kinh điển: Cực tiểu ∥Ax−b∥2 và cực tiểu ∥Ax−b∥22. Hàm u↦u2 tăng ngặt trên [0,∞), tập giá trị của chuẩn, nên hai bài toán có cùng nghiệm, còn giá trị tối ưu liên hệ bởi p2⋆=(p1⋆)2. Hai bài toán vẫn không giống nhau: Hàm thứ nhất không khả vi tại những điểm có Ax=b, còn hàm thứ hai là một hàm toàn phương khả vi ở mọi nơi. Phép biến đổi quen thuộc nhất trong học máy cũng thuộc loại này: Thay vì cực đại hóa hàm hợp lý của dữ liệu, ta cực tiểu hóa âm logarit của nó. Logarit tăng ngặt nên tập nghiệm không đổi, và tích của các mật độ biến thành một tổng, dễ lấy đạo hàm hơn nhiều.

Với ràng buộc, điều kiện đặt lên ψi yếu hơn: Nó chỉ cần giữ đúng dấu, không cần đơn điệu. Ràng buộc x3≤0 chẳng hạn tương đương x≤0, vì hàm căn bậc ba giữ dấu. Hàm x3 không lồi trên R, nên cách viết thứ nhất không phải dạng chuẩn lồi, còn cách viết thứ hai thì có. Ràng buộc ∥x∥2≤1 cũng có thể viết thành ∥x∥22≤1, và cách viết sau khả vi ở mọi nơi.

4. Biến bù ​

Một bất đẳng thức có thể được thay bằng một đẳng thức cộng thêm một điều kiện không âm: Ta có fi(x)≤0 khi và chỉ khi tồn tại si≥0 với fi(x)+si=0. Áp dụng cho mọi ràng buộc bất đẳng thức, ta được bài toán

minimizef0(x)subject tosi≥0,i=1,…,m,subject tofi(x)+si=0,i=1,…,m,subject tohi(x)=0,i=1,…,p,

với biến (x,s)∈Rn×Rm. Biến si được gọi là biến bù (slack variable) của ràng buộc thứ i. Nó đo khoảng trống còn lại của ràng buộc, nên si=0 đúng khi ràng buộc chặt. Hai bài toán tương đương theo cả hai chiều. Nếu (x,s) khả thi cho bài toán mới thì x khả thi cho bài toán gốc, vì fi(x)=−si≤0. Ngược lại, nếu x khả thi cho bài toán gốc thì chọn si=−fi(x), ta được một của bài toán mới với cùng giá trị mục tiêu.

Về tính lồi thì khác. Ràng buộc đẳng thức trong một bài toán lồi phải affine, nên phép thêm biến bù chỉ giữ tính lồi khi fi affine. Với một ràng buộc phi tuyến như x2≤1, phép thêm biến bù cho x2+s=1 và s≥0. Tập các cặp (x,s) thỏa điều kiện này là cung parabol s=1−x2 trên đoạn [−1,1]: Hai điểm (−1,0) và (1,0) thuộc tập, nhưng trung điểm (0,0) thì không, vì 02+0≠1. Bài toán mới tương đương bài toán cũ nhưng không lồi, dù hình chiếu của xuống trục x vẫn là đoạn lồi [−1,1]. Đây là lý do biến bù được dùng thoải mái trong quy hoạch tuyến tính, nơi mọi ràng buộc đều affine, nhưng hiếm khi được dùng cho ràng buộc phi tuyến.

5. Dạng epigraph ​

Bài toán gốc tương đương với bài toán

minimizetsubject tof0(x)−t≤0,subject tofi(x)≤0,i=1,…,m,subject tohi(x)=0,i=1,…,p,

với biến (x,t). Thật vậy, (x,t) là nghiệm của bài toán này khi và chỉ khi x là nghiệm của bài toán gốc và t=f0(x). Hình ảnh hình học rất gọn: Ràng buộc f0(x)≤t nói rằng điểm (x,t) nằm trong epigraph của f0, và ta đang tìm điểm thấp nhất của , trong số những điểm có x khả thi.

Nếu bài toán gốc lồi thì dạng cũng lồi: Hàm mục tiêu t tuyến tính, và hàm f0(x)−t lồi theo cặp (x,t). Vì vậy người ta nói hàm mục tiêu tuyến tính là phổ quát cho tối ưu lồi: Mọi bài toán lồi đều viết lại được với một hàm mục tiêu tuyến tính. Điều này đơn giản hóa cả lý thuyết lẫn thuật toán, vì một thuật toán chỉ cần xử lý mục tiêu tuyến tính và các ràng buộc lồi là đủ dùng cho mọi bài toán lồi.

Phép biến đổi này đặc biệt hữu ích khi hàm mục tiêu là một giá trị lớn nhất. Bài toán cực tiểu maxifi(x) tương đương cực tiểu t với fi(x)≤t cho mọi i: Điều kiện "giá trị lớn nhất không vượt quá t" được tách thành nhiều điều kiện đơn giản. Khi các fi affine, ta được một LP, và bài toán khớp dữ liệu theo sai số tệ nhất ở Lecture 01 chính là một trường hợp như vậy.

6. Ràng buộc ẩn và ràng buộc tường minh ​

Có một mẹo ký hiệu cho phép giấu mọi ràng buộc vào hàm mục tiêu. Định nghĩa F(x)=f0(x) khi x khả thi và F(x)=∞ trong trường hợp còn lại. Bài toán cực tiểu F trông như không có ràng buộc, nhưng tất nhiên nó không dễ hơn chút nào. Thậm chí nó còn khó phân tích hơn: Nếu f0 khả vi với miền mở, thì F thường không khả vi, vì miền của nó, tức , hiếm khi là tập mở.

Chiều ngược lại hữu ích hơn. Nhiều bài toán chứa những ràng buộc ẩn nằm trong miền xác định của hàm. Hàm −∑ilog⁡xi ngầm đòi hỏi xi>0 với mọi i, và hàm mất mát entropy chéo ngầm đòi hỏi các xác suất dự đoán dương. Xét ví dụ khác: Hàm mục tiêu bằng xTx khi Ax=b và bằng ∞ khi ngược lại. Bài toán cực tiểu hàm này không có ràng buộc, nhưng hàm mục tiêu không khả vi. Viết ràng buộc ra ngoài, ta được bài toán cực tiểu xTx với Ax=b: Có thêm một ràng buộc đẳng thức, nhưng mọi hàm đều khả vi. Nhận ra ràng buộc ẩn quan trọng cả khi chạy thuật toán: Một bước lặp đi ra ngoài miền xác định sẽ cho giá trị vô nghĩa, và kỹ thuật tìm kiếm đường ở Lecture 04 phải kiểm tra điều đó trước tiên.

7. Viết lại để tính lồi hiện ra ​

Tối ưu hóa lồi đòi hỏi một định nghĩa chặt chẽ về mặt hình thức: Không chỉ là việc cực tiểu một trên một , mà bắt buộc phải được mô tả tường minh bằng các bất đẳng thức của hàm lồi và các đẳng thức affine. Chủ đề cực tiểu cục bộ và toàn cục của Lecture 01 đã phân tích ví dụ tiêu biểu với ràng buộc x1/(1+x22)≤0 và (x1+x2)2=0: Miền khả thi hình học vốn là tập lồi, nhưng cách viết biểu thức ban đầu thì không lồi. Các phép biến đổi ở trên chính là công cụ để sửa cách viết. Nhân ràng buộc thứ nhất với 1+x22>0 cho x1≤0, một phép co giãn bằng một hàm dương. Lấy căn bậc hai ở ràng buộc thứ hai cho x1+x2=0, một phép biến đổi giữ nghiệm của phương trình.

Có hai giới hạn cần nhớ. Thứ nhất, khi chính không lồi, không cách viết nào giữ nguyên biến làm nó lồi được. Ràng buộc x2≥1 mô tả hai nửa đường thẳng rời nhau, và đó là một sự thật về tập hợp, không phải về cách viết. Thứ hai, lồi không có nghĩa là giải được: Bài toán cực tiểu −log⁡x với x≥1 là bài toán lồi ở dạng chuẩn, nhưng hàm mục tiêu giảm về −∞ khi x→∞, nên bài toán không có nghiệm.

8. Tương đương, nới lỏng và xấp xỉ ​

Không phải phép biến đổi nào cũng tương đương, và hai loại phép biến đổi thường bị nhầm với tương đương là và xấp xỉ.

mở rộng từ C thành một tập lớn hơn C~⊇C, giữ nguyên hàm mục tiêu. Với bài toán cực tiểu, ta có

infx∈C~f(x)≤infx∈Cf(x),

nên giá trị tối ưu của bài toán là một cận dưới cho bài toán gốc. Nghiệm của bài toán nới lỏng thì có thể không thỏa ràng buộc cũ. Chẳng hạn, bài toán cực tiểu (x−0.4)2 với x∈{0,1} có nghiệm x=0 và giá trị 0.16. Nới thành 0≤x≤1, ta được nghiệm x=0.4 với giá trị 0. Cận dưới 0 hợp lệ, nhưng 0.4 không phải một quyết định khả thi của bài toán nhị phân. Làm tròn 0.4 về 0 cho một ứng viên khả thi với giá trị 0.16, và cận dưới cùng ứng viên này kẹp giá trị tối ưu trong đoạn [0,0.16]. Ở đây ứng viên tình cờ đạt đúng giá trị tối ưu, nhưng ta chỉ biết chắc điều đó khi đã liệt kê cả hai điểm.

Xấp xỉ thay một hàm bằng một hàm khác dễ tính hơn, chẳng hạn khai triển bậc nhất quanh một điểm. Một xấp xỉ chỉ có ích khi ta nói được hai hàm gần nhau ở đâu và sai số được đo bằng đại lượng nào. Bản thân chữ "xấp xỉ" không cho biết nó là cận trên hay cận dưới, nên không thể dùng nó để chứng nhận một nghiệm.

9. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Thay hàm mục tiêu f0 bằng max{f0(x),0}. Hàm u↦max{u,0} không giảm nhưng không tăng ngặt. Bài toán mới có còn tương đương bài toán cũ không?

Xem lời giải thích

Còn tùy giá trị tối ưu p⋆ của bài toán gốc. Nếu p⋆>0 thì mọi có f0(x)≥p⋆>0, nên trên miền khả thi hai hàm mục tiêu trùng nhau và hai bài toán có cùng tập nghiệm. Nếu p⋆<0 thì khác hẳn: Mọi điểm khả thi có f0(x)≤0 đều cho giá trị 0 trong bài toán mới, nên đều là nghiệm của nó. Những điểm này phần lớn không phải nghiệm của bài toán gốc. Từ một nghiệm của bài toán mới, ta không lấy lại được nghiệm của bài toán cũ, nên tương đương bị gãy ở một chiều. Điều kiện "tăng ngặt" của ψ0 chính là để chặn hiện tượng các giá trị khác nhau bị dồn thành một.

Câu 2. Nhằm khử ràng buộc x≥0 trong bài toán cực tiểu hóa (x−1)2, một sinh viên đề xuất đổi biến x=z2 rồi cực tiểu (z2−1)2 trên toàn trục số. Cách tiếp cận này có chuẩn xác không, và bản chất vấn đề nằm ở đâu?

Xem lời giải thích

Về nghiệm thì không sai: Ánh xạ z↦z2 phủ kín [0,∞), hai nghiệm z=±1 đều cho x=1, đúng nghiệm của bài toán gốc. Ánh xạ không một-một, nhưng điều đó chỉ làm mỗi nghiệm có hai bản sao. Vấn đề nằm ở hình dạng của hàm mới. Hàm h(z)=(z2−1)2 có h″(0)=−4<0, nên không lồi, và nó có một điểm dừng tại z=0, ứng với x=0. Thế nhưng tại x=0, bài toán gốc có đạo hàm 2(0−1)=−2≠0, nghĩa là x=0 chẳng có gì đặc biệt. Phép đổi biến đã sinh ra một điểm dừng giả, và một thuật toán gradient xuất phát đúng tại z=0 sẽ đứng yên ở đó mãi. Bài học: Tương đương về nghiệm không kéo theo việc giữ được tính lồi, và phải kiểm tra lại tính lồi sau mỗi phép đổi biến không affine.

Câu 3. Ở mục 4, bài toán dùng biến bù cho ràng buộc x2≤1 tương đương với bài toán gốc nhưng không lồi. Vậy "lồi" là tính chất của bài toán hay của cách viết?

Xem lời giải thích

Đó là tính chất gắn liền với cách viết toán học cụ thể. Hai bài toán tương đương có cùng nghiệm, nhưng một cách viết có thể đáp ứng các điều kiện của dạng chuẩn lồi trong khi cách kia không. Điều này nghe như một chi tiết hình thức, nhưng nó phản ánh một sự thật thực tế. Các thuật toán và các định lý đều làm việc với một cách viết cụ thể, chẳng hạn định lý cực tiểu cục bộ là toàn cục cần hàm mục tiêu lồi theo đúng biến đang được tối ưu. Vì vậy nghệ thuật của mô hình hóa là tìm một cách viết tương đương mà tính lồi hiện rõ, chứ không chỉ tin rằng bài toán "về bản chất" là lồi.

Câu 4. Nhân hàm mục tiêu với 1000 làm phương pháp gradient với bước cố định hành xử khác hẳn. Phương pháp Newton thì sao?

Xem lời giải thích

Phương pháp Newton không bị ảnh hưởng. Bước Newton là Δx=−∇2f(x)−1∇f(x). Khi f được nhân với α>0, cả gradient lẫn Hessian đều được nhân với α, nên Δx=−(α∇2f)−1(α∇f) không đổi. Đây là một trường hợp nhỏ của tính bất biến của phương pháp Newton mà Lecture 04 sẽ khai thác: Newton không quan tâm hàm được đo bằng đơn vị nào, còn gradient thì có.

Câu 5. Bài toán cực tiểu ex trên R không đạt nghiệm. Viết nó ở dạng thì có đạt nghiệm không?

Xem lời giải thích

Không. Dạng là cực tiểu t với ex≤t. Mọi có t≥ex>0, và t nhỏ tùy ý khi x→−∞, nên giá trị tối ưu là 0 nhưng không đạt. Điều này đúng một cách tổng quát: Vì mỗi nghiệm của bài toán này cho một nghiệm của bài toán kia, một phép biến đổi tương đương giữ nguyên cả việc có nghiệm hay không. Phép biến đổi chỉ đổi hình dạng của bài toán, không tạo ra nghiệm từ chỗ không có.

10. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Hai cách tham số hóa độ lệch chuẩn

Với n=4 quan sát và tổng bình phương độ lệch S=36, âm log-likelihood là f(σ)=4log⁡σ+18/σ2. (a) Đặt σ=es, viết hàm mục tiêu theo s, chứng minh nó lồi và tìm nghiệm. (b) Đặt σ=s2 với s>0. Hàm mục tiêu theo s có lồi không?

Gợi ý

Ở câu (b), tính đạo hàm cấp hai rồi thử một giá trị s lớn, chẳng hạn s=3.

Lời giải

(a) g(s)=4s+18e−2s, với g″(s)=72e−2s>0, nên g lồi. Giải g′(s)=4−36e−2s=0 được e2s=9, tức s⋆=log⁡3 và σ⋆=3. (b) G(s)=8log⁡s+18/s4, nên G″(s)=−8/s2+360/s6. Tại s=3, ta có G″(3)=−89+360729, khoảng −0.395<0, nên G không lồi. Cả hai phép đổi biến đều bỏ được ràng buộc σ>0 và cho cùng nghiệm σ⋆=3, nhưng chỉ phép đổi biến qua hàm mũ làm bài toán trở nên lồi.

Bài tập 2: Dạng epigraph của một giá trị lớn nhất

Viết bài toán cực tiểu max{x2, (x−3)2, 2−x} trên R ở dạng . Bài toán mới có lồi không? Tìm nghiệm và cho biết ràng buộc nào chặt.

Lời giải

Dạng là cực tiểu t với x2−t≤0, (x−3)2−t≤0 và 2−x−t≤0, theo biến (x,t). Ba hàm ràng buộc đều lồi theo (x,t) và hàm mục tiêu tuyến tính, nên bài toán lồi. Hai parabol cắt nhau tại x=1.5, nơi cả hai bằng 2.25, còn 2−x=0.5 nhỏ hơn. Bên trái x=1.5, số hạng (x−3)2 lớn hơn và đang giảm, bên phải thì x2 lớn hơn và đang tăng, nên nghiệm là x⋆=1.5, t⋆=2.25. Hai ràng buộc đầu chặt, ràng buộc thứ ba có biến bù 2.25−0.5=1.75.

Bài tập 3: Biến bù

Xét tập các điểm x∈R2 thỏa x1+2x2≤4 và −x1+x2≤1. Dùng biến bù để mô tả tập này chỉ bằng đẳng thức và điều kiện không âm. Tính các biến bù tại x=(1,1) và tại x=(0,1), rồi cho biết ràng buộc nào chặt tại mỗi điểm.

Lời giải

Tập mới gồm các (x,s) với x1+2x2+s1=4, −x1+x2+s2=1, s1≥0, s2≥0, còn x tự do. Tại điểm x=(1,1): Biến bù s1=4−3=1 và biến bù s2=1−0=1, không ràng buộc nào chặt. Tại điểm x=(0,1): Biến bù s1=4−2=2 và biến bù s2=1−1=0, nên ràng buộc thứ hai chặt. Biến bù bằng 0 đúng khi ràng buộc tương ứng chặt.

Tóm tắt ​

Hai bài toán tương đương nếu nghiệm của bài toán này cho ngay nghiệm của bài toán kia và ngược lại. Các phép biến đổi cơ bản gồm co giãn, đổi biến một-một, bọc hàm mục tiêu trong một hàm tăng ngặt và bọc ràng buộc trong một hàm giữ dấu, thêm biến bù, chuyển sang dạng , và chuyển ràng buộc giữa dạng ẩn với dạng tường minh. Tất cả đều giữ nghiệm, nhưng có thể thay đổi giá trị tối ưu, tính khả vi hay tính lồi.

Tính lồi là tính chất của cách viết. Đổi biến qua hàm mũ có thể làm một bài toán không lồi trở thành lồi, còn đổi biến không affine hay thêm biến bù cho ràng buộc phi tuyến có thể làm mất tính lồi. Dạng thì luôn giữ tính lồi và cho thấy mọi bài toán lồi đều viết được với hàm mục tiêu tuyến tính. Cuối cùng, chỉ cho một cận, còn xấp xỉ chỉ có ích khi đo được sai số, nên cả hai đều không phải phép biến đổi tương đương.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 02

IV. Quy hoạch hình học

  1. Quy hoạch hình học
Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to