Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Quy hoạch tuyến tính: Các dạng viết và hình học của nghiệm

Chủ đề 4 / 19
  1. 1. Bài toán tương đương và các phép biến đổi cơ bản
  2. 2. Khử ràng buộc đẳng thức và tối ưu theo từng nhóm biến
  3. 3. Hàm tựa lồi và phương pháp chia đôi
  4. 4. Quy hoạch tuyến tính: Các dạng viết và hình học của nghiệm
  5. 5. Những bài toán trở thành LP
  6. 6. Quy hoạch phân tuyến tính
  7. 7. Quy hoạch toàn phương và QCQP
  8. 8. Quy hoạch nón bậc hai và LP bền vững
  9. 9. Quy hoạch hình học
  10. 10. Bài toán dạng nón và quy hoạch nửa xác định
  11. 11. Phần bù Schur và các bài toán về trị riêng
  12. 12. Tối ưu vector, điểm Pareto và đường đánh đổi
  13. 13. Khớp hàm, làm mượt spline và nội suy lồi
  14. 14. Ước lượng phi tham số và thiết kế bộ phát hiện
  15. 15. Cận xác suất Chebyshev, Chernoff và tối ưu hóa ma trận
  16. 16. Quy hoạch mặt bằng và phân bổ không gian tối ưu
  17. 17. Thiết kế thí nghiệm tối ưu và Ma trận thông tin Fisher
  18. 18. Ellipsoid thể tích cực trị và Các điểm tâm hình học
  19. 19. Bài toán định vị, đặt vị trí và tối ưu hóa mạng lưới

Quy hoạch tuyến tính là dạng bài toán tối ưu được ứng dụng rộng rãi nhất trong thực tế, từ lập kế hoạch sản xuất, điều phối vận tải tới phân bổ ngân sách. Lecture 01 đã giới thiệu LP qua một ví dụ hai biến và một chứng nhận tối ưu. Bài giảng này xem xét LP một cách hệ thống và bài bản: Các dạng biểu diễn chuẩn tắc, vị trí nghiệm trên hình học, và bản chất biến đổi giúp đưa mọi bài toán LP về cùng một dạng duy nhất.

1. Dạng tổng quát ​

Khi hàm mục tiêu và mọi hàm ràng buộc đều affine, bài toán được gọi là một quy hoạch tuyến tính (linear program, LP). Dạng tổng quát của nó là

minimizecTx+dsubject toGx⪯h,subject toAx=b,

với G∈Rm×n và A∈Rp×n. Ký hiệu ⪯ là bất đẳng thức theo từng thành phần. LP hiển nhiên là bài toán lồi.

Hằng số d không làm thay đổi nghiệm, nên người ta thường bỏ nó đi, nhưng nhớ rằng nó vẫn làm thay đổi giá trị tối ưu. Bài toán cực đại một hàm affine trên cùng loại ràng buộc cũng được gọi là LP, vì cực đại cTx+d tương đương cực tiểu −cTx−d. Trong thực tế tối ưu hóa, ta cũng thường mở rộng định nghĩa: Một bài toán có thể đưa về LP bằng các phép biến đổi tương đương cũng được xem là LP, dù ban đầu nó chưa xuất hiện ở dạng chuẩn tắc. Bài toán khớp dữ liệu theo sai số tệ nhất ở Lecture 01 là một ví dụ như vậy.

2. Hình học của nghiệm ​

của một LP là một đa diện P, giao của hữu hạn nửa không gian và siêu phẳng. Các tập mức {x:cTx=k} của hàm mục tiêu là những siêu phẳng song song, cùng vuông góc với c. Giảm k nghĩa là tịnh tiến siêu phẳng theo hướng −c. Vì thế nghiệm tối ưu là điểm của P nằm xa nhất theo hướng −c: Ta đẩy siêu phẳng mức theo hướng −c cho tới khi nó sắp rời khỏi đa diện.

Hình ảnh này cho thấy ngay bốn khả năng có thể xảy ra.

  • Nghiệm duy nhất tại một đỉnh. Đây là trường hợp thường gặp khi c không vuông góc với cạnh nào của đa diện.
  • Cả một cạnh, hay một mặt, là tập nghiệm. Điều này xảy ra khi c vuông góc với cạnh hay mặt đó và nó nằm ở phía xa nhất theo hướng −c.
  • Không bị chặn dưới. Nếu đa diện kéo dài vô hạn theo một hướng r với cTr<0, thì đi theo hướng r làm giá trị giảm mãi, và p⋆=−∞.
  • Bất khả thi. Đa diện rỗng, và p⋆=+∞.

Mô phỏng dưới đây cho phép người học tùy ý xoay vector c và quan sát trực quan các trạng thái khả thi của bài toán.

Đẩy đường mức theo hướng −c

Mỗi đường nét đứt là một đường mức cᵀx = hằng số, vuông góc với c. Cực tiểu cᵀx nghĩa là đẩy đường mức theo hướng mũi tên −c cho tới khi nó sắp rời khỏi miền khả thi.

−c

hướng giảm −cđường mứcđường mức tối ưutập nghiệm khi có nhiều nghiệmtia làm hàm giảm mãi

c = (−0.71, −0.71). Bài toán: cực tiểu cᵀx trên ngũ giác bị chặn.

Nghiệm duy nhất tại đỉnh (4.50, 2.20), giá trị tối ưu −4.738. Hai ràng buộc gặp nhau ở đỉnh này là hai ràng buộc chặt.

Gợi ý thao tác
  1. Xoay c một vòng. Đỉnh tối ưu nhảy từ đỉnh này sang đỉnh kề, và giữa hai lần nhảy luôn có một hướng làm cả cạnh tối ưu. Bấm nút để tìm hướng ấy.
  2. Đổi sang đa diện không bị chặn. Với những hướng nào bài toán vẫn có nghiệm? Hãy so các hướng đó với hai tia của đa diện.
  3. Với đa diện không bị chặn, tìm hướng c làm cả một tia trở thành tập nghiệm. Giá trị tối ưu khi đó có hữu hạn không?
  4. Vì sao nghiệm không bao giờ nằm hẳn bên trong miền khả thi, trừ khi c = 0?

Nhận xét "nghiệm nằm ở một đỉnh" cần được phát biểu cẩn thận. Đúng là nếu đa diện có ít nhất một đỉnh và LP có giá trị tối ưu hữu hạn, thì có một nghiệm tối ưu là đỉnh. Nhưng có những đa diện không có đỉnh nào, chẳng hạn một dải {x∈R2:−1≤x1−x2≤1}, và LP trên đó vẫn có thể có nghiệm. Kết quả về đỉnh là nền tảng của phương pháp đơn hình, thuật toán đi từ đỉnh này sang đỉnh kề tốt hơn, mà Lecture 07 sẽ trình bày.

3. Dạng chuẩn và dạng bất đẳng thức ​

Hai trường hợp riêng của LP gặp nhiều đến mức có tên riêng. LP dạng chuẩn chỉ có ràng buộc đẳng thức và điều kiện không âm của biến:

minimizecTxsubject toAx=b,x⪰0.

LP dạng bất đẳng thức không có ràng buộc đẳng thức nào:

minimizecTxsubject toAx⪯b.

Hai dạng phục vụ hai mục đích khác nhau. Dạng bất đẳng thức gần với hình học, vì mỗi hàng của A là một nửa không gian. Dạng chuẩn gần với đại số, vì nó làm việc với hệ phương trình Ax=b, và đó là dạng mà phương pháp đơn hình dùng.

4. Đưa một LP bất kỳ về dạng chuẩn ​

Hai bước là đủ. Bước thứ nhất thêm biến bù s⪰0 cho các bất đẳng thức, biến Gx⪯h thành Gx+s=h. Bước thứ hai xử lý những biến không có điều kiện dấu: Viết mỗi biến tự do thành hiệu của hai biến không âm, x=x+−x− với x+,x−⪰0. Kết quả là bài toán

minimizecTx+−cTx−+dsubject toGx+−Gx−+s=h,subject toAx+−Ax−=b,subject tox+⪰0,x−⪰0,s⪰0,

đúng dạng chuẩn với biến (x+,x−,s).

Hãy làm một ví dụ tự đặt. Xét bài toán cực tiểu x1−2x2 với x1+x2≤4, −x1+x2≤2 và x2≥0, trong đó x1 không có điều kiện dấu. là tam giác có ba đỉnh (−2,0), (4,0) và (1,3), cho các giá trị −2, 4 và −5, nên nghiệm là (1,3) với giá trị −5. Đưa về dạng chuẩn, ta đặt x1=u−v với u,v≥0, thêm hai biến bù s1,s2≥0, và được

minimizeu−v−2x2subject tou−v+x2+s1=4,subject to−u+v+x2+s2=2,subject tou, v, x2, s1, s2≥0.

Bài toán có năm biến không âm và hai phương trình. Nghiệm của nó là u=1, v=0, x2=3, s1=s2=0, với cùng giá trị −5. Hai biến bù bằng 0 cho biết hai ràng buộc đầu chặt tại nghiệm, đúng với việc đỉnh (1,3) là giao của hai đường thẳng ấy.

Phép tách x=x+−x− có một điểm đáng chú ý: Nó không duy nhất. Cộng cùng một số dương vào cả x+ lẫn x− không đổi x. Câu 2 ở cuối trang cho thấy vì sao điều này không gây hại.

5. Ví dụ: Bài toán khẩu phần ​

Một ví dụ kinh điển mở đầu cho LP là bài toán khẩu phần (Diet Problem). Có n loại thực phẩm, mỗi đơn vị thực phẩm j có giá cj và chứa lượng aij của chất dinh dưỡng i. Một khẩu phần lành mạnh cần ít nhất bi đơn vị chất i, với m chất. Gọi xj≥0 là lượng thực phẩm j được dùng, khẩu phần rẻ nhất là nghiệm của

minimizecTxsubject toAx⪰b,x⪰0.

Mô hình này linh hoạt hơn vẻ ngoài của nó. Yêu cầu một lượng chính xác của một chất cho một ràng buộc đẳng thức. Giới hạn lượng tối đa, chẳng hạn của muối, cho thêm một bất đẳng thức theo chiều ngược lại. Giới hạn lượng một loại thực phẩm cho một cận trên của biến. Tất cả đều giữ bài toán là LP. Cái mô hình không làm được là những yêu cầu như "dùng nhiều nhất ba loại thực phẩm", vì đếm số biến khác 0 không phải một hàm affine, thậm chí không phải hàm tựa lồi, như chủ đề trước đã chỉ ra.

6. Vì sao không thể chỉ thử các đỉnh ​

Nếu nghiệm luôn nằm ở một đỉnh, sao không liệt kê mọi đỉnh rồi chọn đỉnh tốt nhất? Nguyên nhân là số đỉnh có thể bùng nổ theo cấp số nhân. Hình lập phương [0,1]n chỉ cần 2n bất đẳng thức để mô tả, nhưng có 2n đỉnh. Với n=30, đó là 60 bất đẳng thức và hơn một tỉ đỉnh. Một đa diện mô tả bằng m bất đẳng thức trong Rn có thể có tới cỡ (mn) đỉnh, vì mỗi đỉnh được xác định bởi n ràng buộc chặt. Các thuật toán thực tế, như phương pháp đơn hình hay phương pháp điểm trong, tránh việc liệt kê này bằng cách đi có định hướng trên đa diện hoặc xuyên qua bên trong nó.

7. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Một LP có thể có đúng hai nghiệm tối ưu không?

Xem lời giải thích

Không. Tập nghiệm của một bài toán lồi là , nên nếu x và y đều là nghiệm thì mọi điểm trên đoạn nối chúng cũng là nghiệm. Vậy một LP có không nghiệm, đúng một nghiệm, hoặc vô số nghiệm. Với LP, tập nghiệm còn là một mặt của đa diện: Một đỉnh, một cạnh, hay một mặt có số chiều lớn hơn. Đó là lý do trong mô phỏng, giữa hai hướng c có hai đỉnh tối ưu khác nhau luôn có một hướng làm cả cạnh nối chúng tối ưu.

Câu 2. Trong phép tách x=x+−x−, có thể xảy ra trường hợp tại nghiệm của bài toán dạng chuẩn, cả xi+ lẫn xi− đều dương không? Điều đó có làm hỏng phép biến đổi không?

Xem lời giải thích

Có thể. Nếu (x+,x−,s) là nghiệm thì (x++δei,x−+δei,s) với δ>0 cũng khả thi và cho cùng giá trị, nên cũng là nghiệm. Phép biến đổi không hỏng, vì ta luôn lấy lại được x=x+−x− với đúng giá trị tối ưu, và đó là tất cả những gì định nghĩa tương đương đòi hỏi. Hơn nữa, tại các nghiệm là đỉnh của bài toán dạng chuẩn, không bao giờ có cả hai cùng dương: Cột của xi+ và cột của xi− trong ràng buộc đối dấu nhau, tức phụ thuộc tuyến tính, nên không thể cùng là biến cơ sở. Phương pháp đơn hình, vốn chỉ đi qua các đỉnh, vì vậy luôn trả về min{xi+,xi−}=0.

Câu 3. Cho hai nhóm điểm trong mặt phẳng, nhóm dương gồm (2,2), (3,1), (3,3) và nhóm âm gồm (0,0), (1,0), (0,1.5). Làm thế nào kiểm tra có một đường thẳng tách hai nhóm hay không bằng một LP?

Xem lời giải thích

Tìm (a,b)∈R2×R với aTxi−b≥1 cho mọi điểm dương và aTxj−b≤−1 cho mọi điểm âm. Mọi điều kiện đều tuyến tính theo (a,b), nên đây là một bài toán khả thi LP với ba biến và sáu bất đẳng thức. Hằng số 1 không làm mất tính tổng quát: Nếu có một đường thẳng tách chặt, nhân (a,b) với một số dương đủ lớn sẽ cho khoảng cách 1. Với dữ liệu này, một bộ giải LP trả về chẳng hạn a=(67,47) và b=137, tức đường thẳng 6x1+4x2=13 tách hai nhóm. Đây là bài toán phân lớp tuyến tính ở dạng đơn giản nhất. Khi hai nhóm không tách được, LP bất khả thi, và người ta chuyển sang cực tiểu tổng các vi phạm, một ý tưởng dẫn tới máy vector hỗ trợ.

Câu 4. Bài toán cực tiểu x1−x2 trên dải {−1≤x1−x2≤1} có nghiệm không? Nó minh họa điều gì về nhận xét "nghiệm nằm ở đỉnh"?

Xem lời giải thích

Có. Hàm mục tiêu không nhỏ hơn −1 trên dải, và đạt −1 trên cả đường thẳng x1−x2=−1, nên p⋆=−1 và tập nghiệm là một đường thẳng vô hạn. Dải không có đỉnh nào, vì không điểm nào của nó là giao của hai ràng buộc chặt độc lập. Vậy LP vẫn có thể có nghiệm khi đa diện không có đỉnh, và lúc đó không có "nghiệm là đỉnh" nào cả. Định lý về đỉnh cần giả thiết đa diện có ít nhất một đỉnh, điều tương đương với việc nó không chứa trọn một đường thẳng.

Câu 5. Trong mô phỏng, với đa diện không bị chặn, có những hướng c làm bài toán không bị chặn dưới. Hãy mô tả chính xác tập các hướng c làm bài toán có giá trị tối ưu hữu hạn.

Xem lời giải thích

Đa diện có dạng conv{v1,v2,v3}+cone{ra,rb}. Trên phần bị chặn, hàm tuyến tính luôn đạt giá trị nhỏ nhất. Trên mỗi tia v+τr, giá trị là cTv+τcTr, bị chặn dưới khi và chỉ khi cTr≥0. Vậy bài toán có giá trị hữu hạn khi và chỉ khi cTra≥0 và cTrb≥0, tức c thuộc nón đối ngẫu của nón sinh bởi hai tia. Kết quả này đúng cho mọi đa diện khác rỗng: LP có giá trị hữu hạn khi và chỉ khi c nằm trong nón đối ngẫu của nón lùi xa của đa diện. Đây là một trong những chỗ hình học của nón đối ngẫu ở Lecture 01 được dùng trực tiếp.

8. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Đếm biến sau khi chuyển dạng

Một LP có 4 biến, trong đó 2 biến không có điều kiện dấu và 2 biến có điều kiện không âm, cùng 3 bất đẳng thức và 1 đẳng thức. Sau khi chuyển về dạng chuẩn theo cách ở mục 4, bài toán có bao nhiêu biến và bao nhiêu phương trình?

Lời giải

Hai biến tự do mỗi biến tách thành hai, nên có 2×2+2=6 biến từ x. Ba bất đẳng thức cho thêm ba biến bù. Tổng cộng 9 biến không âm. Số phương trình là 3+1=4: Ba phương trình từ các bất đẳng thức đã thêm biến bù và một đẳng thức có sẵn. Hai biến vốn đã có điều kiện không âm thì giữ nguyên, không cần tách.

Bài tập 2: Giải bằng hình học

Trên ngũ giác có các đỉnh (0.5,0.5), (3.5,0.5), (4.5,2.2), (2.8,3.8), (0.8,3.0) của mô phỏng, (a) tìm nghiệm của bài toán cực đại x1+x2. (b) Tìm một vector c để bài toán cực đại cTx có cả cạnh nối (4.5,2.2) và (2.8,3.8) làm tập nghiệm.

Lời giải

(a) Giá trị tại năm đỉnh là 1, 4, 6.7, 6.6 và 3.8, nên nghiệm là đỉnh (4.5,2.2) với giá trị 6.7. (b) Vector cạnh là (2.8−4.5, 3.8−2.2)=(−1.7, 1.6). Vector c phải vuông góc với nó và hướng ra ngoài ngũ giác, chẳng hạn c=(1.6,1.7). Khi đó hai đầu cạnh cùng cho giá trị 1.6×4.5+1.7×2.2=10.94 và 1.6×2.8+1.7×3.8=10.94, trong khi ba đỉnh còn lại cho 1.65, 6.45 và 6.38, nên cả cạnh là tập nghiệm.

Bài tập 3: Không bị chặn

Bài toán cực tiểu −x1−x2 trên dải {x∈R2:−1≤x1−x2≤1} có nghiệm không? Chỉ ra một hướng r chứng tỏ điều đó.

Lời giải

Không, bài toán không bị chặn dưới. Hướng r=(1,1) có r1−r2=0, nên đi theo r từ một bất kỳ ta vẫn ở trong dải. Dọc hướng ấy, hàm mục tiêu thay đổi một lượng cTr=−2<0 trên mỗi đơn vị, nên giảm mãi về −∞.

Tóm tắt ​

Quy hoạch tuyến tính cực tiểu một hàm affine trên một đa diện. Về hình học, nghiệm là điểm của đa diện xa nhất theo hướng −c, và có bốn khả năng: Nghiệm duy nhất tại một đỉnh, cả một mặt là tập nghiệm, bài toán không bị chặn dưới khi đa diện kéo dài theo một hướng làm giảm cTx, hoặc bất khả thi.

Mọi LP đều đưa được về dạng chuẩn mincTx với Ax=b, x⪰0, bằng cách thêm biến bù cho bất đẳng thức và tách mỗi biến tự do thành hiệu của hai biến không âm. Khi đa diện có đỉnh và giá trị tối ưu hữu hạn, luôn có một đỉnh tối ưu, nhưng số đỉnh có thể tăng theo hàm mũ, nên các thuật toán không liệt kê đỉnh mà đi có định hướng.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
  • Dimitris Bertsimas, John N. Tsitsiklis, Introduction to Linear Optimization, Athena Scientific.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 02

IV. Quy hoạch hình học

  1. Quy hoạch hình học
Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to