Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính

Chủ đề 13 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Phép biến đổi affine bảo toàn tính lồi vì nó giữ nguyên đoạn thẳng và tỉ lệ phân chia trên đoạn thẳng. Một câu hỏi tự nhiên đặt ra là: Liệu có phép biến đổi phi tuyến nào vẫn bảo toàn tính lồi hay không? Câu trả lời là khẳng định, và mô hình trực quan kinh điển nhất xuất phát từ một thiết bị quang học nguyên thủy: Máy ảnh lỗ kim (pinhole camera). Quan sát một vật thể lồi qua lỗ kim, ảnh thu nhận trên màn chắn vẫn là một , cho dù kích thước và tỉ lệ đã bị biến dạng theo khoảng cách chiều sâu.

Bài học này nghiên cứu phép biến đổi ấy, gọi là phép phối cảnh, cùng họ hàm rộng hơn được xây dựng từ nó là hàm phân tuyến tính. Bài học bản chất ở đây là sự phân định rạch ròi giữa hai tính chất: Giữ nguyên đoạn thẳng và giữ nguyên tỉ lệ trên đoạn thẳng. Tính lồi chỉ cần điều kiện thứ nhất.

1. Phép phối cảnh ​

Định nghĩa. Phép phối cảnh P:Rn+1→Rn được định nghĩa bởi P(z,t)=z/t, với miền xác định domP=Rn×R++, tức là chỉ gồm những điểm có tọa độ chiều sâu cuối t>0.

Về mặt hình học, phép phối cảnh chuẩn hóa bằng cách chia cho thành phần cuối để quy thành phần đó về 1, sau đó lược bỏ tọa độ này. Chẳng hạn P(6,4,2)=(3,2). Mọi điểm trên cùng một tia xuất phát từ gốc tọa độ (nằm trong nửa không gian mở t>0) đều có chung một ảnh: Cụ thể P(2,2)=P(3,3)=1. Do đó, phép phối cảnh triệt tiêu thông tin khoảng cách tới gốc và chỉ bảo toàn hướng của tia.

Một mô hình trực quan kinh điển giúp làm sáng tỏ phép phối cảnh là mô hình máy ảnh lỗ kim (pinhole camera). Một máy ảnh lỗ kim trong không gian R3 gồm một mặt chắn sáng nằm ngang x3=0 có một lỗ nhỏ tại gốc tọa độ, và một màn ảnh thu nhận nằm ngang x3=−1. Một vật thể tại vị trí x nằm phía trên mặt chắn (x3>0) sẽ tạo ảnh tại điểm −(x1/x3, x2/x3, 1) trên màn ảnh, bởi vì tia sáng truyền thẳng qua lỗ kim. Bỏ đi thành phần cao độ cuối luôn bằng −1, vị trí ảnh của x chính là −P(x). Khi vật thể càng ra xa (tức tọa độ chiều sâu x3 càng lớn), kích thước ảnh càng thu nhỏ và hội tụ về tâm màn ảnh, hoàn toàn khớp với trải nghiệm thị giác thực tế.

2. Đoạn thẳng biến thành đoạn thẳng, nhưng tỉ lệ thay đổi ​

Toàn bộ cơ sở giải tích của phép phối cảnh bắt nguồn từ tính chất bảo toàn đoạn thẳng sau đây: Lấy hai điểm x=(x~,xn+1) và y=(y~,yn+1) với xn+1>0 và yn+1>0. Với 0≤θ≤1, ta tính ảnh của điểm trên đoạn nối chúng:

P(θx+(1−θ)y)=θx~+(1−θ)y~θxn+1+(1−θ)yn+1.

Chìa khóa biến đổi là biểu diễn mỗi x~ thành xn+1P(x) và y~ thành yn+1P(y). Khi đó vế phải bằng

θxn+1θxn+1+(1−θ)yn+1P(x)+(1−θ)yn+1θxn+1+(1−θ)yn+1P(y)=μP(x)+(1−μ)P(y),

với

μ=θxn+1θxn+1+(1−θ)yn+1∈[0,1].

Vậy ảnh của điểm ứng với tỉ lệ θ trên đoạn [x,y] là điểm ứng với tỉ lệ khác μ trên đoạn [P(x),P(y)]. Hai chi tiết quyết định nằm trong công thức của μ. Thứ nhất, mẫu số dương vì cả xn+1 và yn+1 dương, nên μ xác định và thuộc [0,1]. Thứ hai, μ tăng đơn điệu theo θ, đi từ 0 khi θ=0 tới 1 khi θ=1. Do đó khi θ quét hết đoạn [x,y], μ quét hết đoạn [P(x),P(y)], và ta có P([x,y])=[P(x),P(y)].

Hai tỉ lệ θ và μ chỉ trùng nhau khi xn+1=yn+1, tức là hai điểm "cách máy ảnh" như nhau. Điểm gần hơn (tọa độ cuối nhỏ hơn) chiếm phần lớn hơn trên ảnh. Người vẽ tranh biết hiện tượng phối cảnh này từ lâu: Một con đường thẳng chạy ra xa trông như thu hẹp lại, và những đoạn bằng nhau ở xa trông ngắn hơn những đoạn ở gần.

Ví dụ: Trung điểm không còn là trung điểm

Với u=(1,1) và v=(6,3) trong R2, ta có P(u)=1 và P(v)=2. Trung điểm 12(u+v)=(3.5,2) có ảnh 3.52=1.75, trong khi trung điểm của hai ảnh là 1.5. Công thức cho μ=0.5⋅10.5⋅1+0.5⋅3=14, và quả thật 14⋅1+34⋅2=1.75. Điểm v ở xa hơn (t=3) nhưng lại "kéo" ảnh của trung điểm về phía nó, vì phần đoạn thẳng gần v bị nén lại khi chiếu.

Chia cho tọa độ cuối: đoạn thẳng vẫn là đoạn thẳng

t = 1ztuv

u = (1.0, 1.0) có ảnh P(u) = 1.00, còn v = (6.0, 3.0) có ảnh P(v) = 2.00. Đoạn xanh lá là ảnh của đoạn tím.

Điểm vàng θu + (1 − θ)v có ảnh 1.750. Ảnh này bằng μP(u) + (1 − μ)P(v) với μ = θt_u/(θt_u + (1 − θ)t_v) = 0.250, chứ không phải với chính θ (vòng tròn rỗng, ứng với 1.500).

Gợi ý thao tác
  1. Đặt u và v cùng độ cao t. Khi đó μ và θ có bằng nhau không?
  2. Kéo v lên cao hơn nhiều so với u. Điểm ảnh của trung điểm (θ = 0.5) lệch về phía P(u) hay P(v)?
  3. Kéo u lại gần trục z (t nhỏ). Ảnh P(u) chạy đi đâu?

3. Phép phối cảnh giữ tính lồi ​

Từ kết quả "đoạn thẳng thành đoạn thẳng", tính lồi của ảnh suy ra ngay. Nếu C lồi và nằm trong domP, lấy hai điểm P(x),P(y) của P(C) với x,y∈C. Đoạn [P(x),P(y)] là ảnh của đoạn [x,y], mà đoạn [x,y]⊆C vì C lồi. Vậy đoạn [P(x),P(y)]⊆P(C), tức P(C) lồi. Về mặt trực giác hình học: Một vật thể lồi khi quan sát qua máy ảnh lỗ kim luôn cho một ảnh thu được là một .

Ảnh ngược cũng giữ tính lồi. Với C⊆Rn lồi,

P−1(C)={(x,t)∈Rn+1|xt∈C, t>0}

là . Chứng minh dùng đúng lập luận ở mục 2 theo chiều ngược lại: Với (x,t),(y,s)∈P−1(C) và θ∈[0,1],

θx+(1−θ)yθt+(1−θ)s=μxt+(1−μ)ys,μ=θtθt+(1−θ)s∈[0,1],

nên điểm này thuộc C vì là của hai điểm thuộc C. Một cách hình dung: Tập P−1(C) là hợp của mọi tia từ gốc đi qua tập C đặt ở độ cao t=1, tức là nón sinh bởi C (bỏ đi gốc tọa độ). Tập ảnh ngược này sẽ xuất hiện lại khi ta nói về phối cảnh của một hàm ở chủ đề về các phép toán giữ tính lồi của hàm.

Phép phối cảnh không phải là một ánh xạ affine, và nó không bảo toàn các bất biến affine quen thuộc: Nó giữ nguyên đoạn thẳng nhưng làm biến dạng trung điểm, thay đổi tỉ lệ phân chia và không bảo toàn khoảng cách. Tuy nhiên, tính lồi vẫn được duy trì trọn vẹn, bởi vì bản chất của chỉ đòi hỏi sự tồn tại của đoạn thẳng nối hai điểm mà không phụ thuộc vào phép đo khoảng cách hay sự bảo toàn tỉ lệ.

4. Hàm phân tuyến tính ​

Ghép một hàm affine với phép phối cảnh, ta được một họ hàm rộng hơn.

Định nghĩa. Cho A∈Rm×n, b∈Rm, c∈Rn, d∈R. Hàm

f(x)=Ax+bcTx+d,domf={x∣cTx+d>0},

được gọi là hàm phân tuyến tính (linear-fractional, hay projective function).

Tử số là một , mẫu số là một số vô hướng. Hàm này là hợp f=P∘g của ánh xạ affine g(x)=(Ax+b, cTx+d) với phép phối cảnh. Khi c=0 và d>0, miền xác định là cả Rn và f là một hàm affine, nên hàm affine là trường hợp riêng của hàm phân tuyến tính. Hàm một biến 1/x trên x>0 cũng là hàm phân tuyến tính, với A=0, b=1, c=1, d=0.

Vì cả hai thành phần đều giữ tính lồi, hàm phân tuyến tính cũng vậy. Nếu C lồi và nằm trong domf, thì f(C) lồi: Ánh xạ affine biến C thành một nằm trong nửa không gian có tọa độ cuối dương, rồi phép phối cảnh giữ tính lồi. Tương tự, nếu C lồi thì f−1(C) lồi.

Điều kiện "C nằm trong miền xác định" là bắt buộc, và không phải chi tiết hình thức. Hàm 1/x biến đoạn [1,2] thành đoạn [12,1], một . Nhưng nếu áp nó lên tập [−1,−12]∪[12,1], hay tệ hơn là một đoạn chứa 0 như [−1,1] (bỏ điểm 0), ảnh thu được là hai nửa đường thẳng rời nhau. Mẫu số đổi dấu thì mọi lập luận về μ ở mục 2 sụp đổ, vì μ không còn nằm trong [0,1].

Ví dụ: Ảnh của một tam giác

Xét f(x)=xx1+x2+1 trên R2, với miền xác định {x∣x1+x2+1>0}. Xét tam giác có ba đỉnh là (0,0), (2,0) và (0,2), tam giác này nằm trọn trong miền xác định của . Ba đỉnh lần lượt có ảnh là (0,0), (23,0) và (0,23). Vì đoạn thẳng biến thành đoạn thẳng và ba cạnh biến thành ba cạnh, nên ảnh thu được là một tam giác có ba đỉnh vừa tìm. Tuy nhiên, tỉ lệ khoảng cách bị thay đổi: Trung điểm (1,0) của cạnh đáy có ảnh là (12,0), trong khi trung điểm của đoạn ảnh cạnh đáy là (13,0).

Dưới góc nhìn hình học xạ ảnh (projective geometry), ta có thể giải thích rõ nét bản chất của tên gọi "projective". Đồng nhất mỗi điểm z∈Rn với tia {t(z,1)∣t>0} trong Rn+1. Khi đó hàm phân tuyến tính tương ứng với phép nhân Q=[AbcTd] lên tia ấy, rồi đọc lại điểm từ tia mới. Trong đồ họa máy tính và thị giác máy tính, cách viết này được gọi là tọa độ thuần nhất (homogeneous coordinates): Một điểm (x,y) được lưu thành (x,y,1), và mọi phép chiếu phối cảnh của camera trở thành một phép nhân ma trận theo sau bởi một phép chia chuẩn hóa.

Trong tối ưu hóa, hàm phân tuyến tính giữ vai trò cầu nối trong quy hoạch phân tuyến tính (linear-fractional programming): Bài toán cực tiểu hóa tỉ số cTx+deTx+f với các ràng buộc đa diện Ax⪯b và mẫu số dương eTx+f>0. Thông qua phép đổi biến phối cảnh (phép biến đổi Charnes–Cooper) y=xeTx+f và z=1eTx+f, toàn bộ bài toán phân thức được quy đổi chính xác về một bài toán quy hoạch tuyến tính (LP) mẫu mực theo biến (y,z).

5. Xác suất có điều kiện là một hàm phân tuyến tính ​

Một ứng dụng sâu sắc của phép phân tuyến tính xuất hiện trực tiếp trong lý thuyết xác suất và suy diễn thống kê. Gọi u∈{1,…,n} và v∈{1,…,m} là hai biến ngẫu nhiên rời rạc, với phân phối xác suất đồng thời là các phần tử pij=prob(u=i,v=j). Khi đó, phân phối xác suất có điều kiện được tính bởi:

fij=prob(u=i∣v=j)=pij∑k=1npkj=pijp1j+p2j+⋯+pnj.

Tử số pij là hàm tuyến tính theo p, và mẫu số ∑k=1npkj cũng là hàm tuyến tính theo p, đồng thời mẫu số luôn dương khi prob(v=j)>0. Như vậy, ánh xạ biến đổi từ phân phối xác suất đồng thời sang phân phối xác suất có điều kiện là một hàm phân tuyến tính. Hệ quả: Nếu C là một các phân phối đồng thời (chẳng hạn tập các phân phối thỏa mãn một số ràng buộc tuyến tính về kỳ vọng), thì tập các phân phối có điều kiện tương ứng cũng là một tập lồi.

Ví dụ nhỏ sau cho thấy "đổi tỉ lệ" của mục 2 trong ngữ cảnh xác suất. Xét cột v=1 của hai phân phối đồng thời: Phân phối thứ nhất có p11=0.1, p21=0.3, cho f11=14, còn phân phối thứ hai có p11=0.4, p21=0.1, cho f11=45. Trộn hai phân phối đồng thời với tỉ lệ 12, ta được p11=0.25, p21=0.2, và f11=0.250.45=59. Kết quả này không phải trung bình 2140 của hai xác suất có điều kiện, nhưng vẫn nằm giữa chúng, ứng với tỉ lệ μ=49. Phân phối nào có prob(v=1) lớn hơn thì có tiếng nói lớn hơn, đúng như điểm "gần máy ảnh" ở mục 2.

6. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Ảnh của một đường thẳng (không đi qua gốc) nằm trong miền t>0 qua phép phối cảnh là gì? Còn ảnh của một tia từ gốc?

Xem lời giải thích

Mọi điểm trên một tia từ gốc có cùng ảnh, nên ảnh của tia là một điểm. Một đường thẳng không qua gốc, nằm trọn trong miền t>0, phải song song với siêu phẳng t=0 (nếu không nó sẽ cắt t=0). Khi đó tọa độ cuối không đổi trên đường thẳng, và phép phối cảnh chỉ là một phép co giãn, nên ảnh là một đường thẳng. Với một nửa đường thẳng đi lên ra xa, chẳng hạn {(s,1+s)∣s≥0}, ảnh là {s1+s}=[0,1), một đoạn không chứa đầu mút 1. Nửa đường thẳng vô hạn bị "co" lại thành một đoạn hữu hạn, như đường ray chạy tới đường chân trời.

Câu 2. Vì sao miền xác định của phép phối cảnh lại là t>0 chứ không phải t≠0? Nếu cho phép t<0, kết quả về tính lồi còn đúng không?

Xem lời giải thích

Nếu cho phép cả t>0 lẫn t<0, một đoạn thẳng có thể cắt qua t=0, và ảnh của nó gồm hai nửa đường thẳng tách rời, không lồi. Chẳng hạn đoạn nối (1,1) và (1,−1) trong R2: Ảnh các điểm (1,t) là 1/t, chạy từ 1 tới +∞ khi t giảm về 0+, và từ −∞ tới −1 khi t đi từ 0− về −1. Nếu chỉ dùng một phía, chẳng hạn t<0, thì kết quả vẫn đúng bằng cùng lập luận, chỉ là quy ước chuẩn tắc trong tối ưu hóa chọn nửa không gian t>0 để đồng nhất với chiều dương của khoảng cách. Điều quan trọng là mọi điểm của tập phải nằm cùng một phía.

Câu 3. Hàm f(x)=x1x2 trên miền x2>0 là phân tuyến tính. Tập {x∣x2>0, x1x2≤3} có lồi không? Hãy trả lời bằng hai cách: Dùng ảnh ngược, và biến đổi trực tiếp.

Xem lời giải thích

Cách thứ nhất: Tập là ảnh ngược của nửa đường thẳng lồi (−∞,3] qua hàm phân tuyến tính f, nên lồi. Cách thứ hai: Vì x2>0, nhân hai vế với x2 không đổi chiều, nên điều kiện tương đương x1≤3x2, một nửa mặt phẳng. Giao với nửa mặt phẳng mở x2>0 là một . Cách thứ hai cho thấy một mẹo quan trọng trong quy hoạch phân tuyến tính: Khi mẫu số có dấu xác định, nhân chéo biến ràng buộc phân thức thành ràng buộc tuyến tính.

7. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Tính μ

Với x=(2,4) và y=(6,1) trong R2 (thành phần cuối là t), tính P(x), P(y), ảnh của điểm θx+(1−θ)y với θ=13, và giá trị μ tương ứng. Kiểm tra đẳng thức

P(θx+(1−θ)y)=μP(x)+(1−μ)P(y).
Lời giải

P(x)=24=12 và P(y)=6. Điểm 13x+23y=(23+4, 43+23)=(143,2) có ảnh 143⋅12=73. Công thức cho μ=13⋅413⋅4+23⋅1=4/32=23. Kiểm tra: Ta có 23⋅12+13⋅6=13+2=73, đúng.

Bài tập 2: Ảnh ngược của một nửa không gian qua hàm phân tuyến tính

Cho f(x)=Ax+bcTx+d với miền cTx+d>0, và C={y∣gTy≤h}. Mô tả f−1(C) bằng các bất đẳng thức tuyến tính.

Lời giải

x∈f−1(C) khi và chỉ khi cTx+d>0 và gTAx+bcTx+d≤h. Nhân hai vế với số dương cTx+d được gT(Ax+b)≤h(cTx+d), tức (ATg−hc)Tx≤hd−gTb. Vậy

f−1(C)={x∣cTx+d>0, (ATg−hc)Tx≤hd−gTb},

giao của một nửa không gian mở và một nửa không gian đóng.

Tóm tắt ​

Phép phối cảnh P(z,t)=z/t trên miền t>0 chia cho tọa độ cuối rồi bỏ nó đi, giống ảnh tạo bởi máy ảnh lỗ kim. Nó biến đoạn thẳng thành đoạn thẳng, nhưng điểm ứng với tỉ lệ θ biến thành điểm ứng với tỉ lệ μ=θxn+1θxn+1+(1−θ)yn+1. Vì tính lồi chỉ cần đoạn thẳng chứ không cần tỉ lệ, ảnh và ảnh ngược của qua phép phối cảnh đều lồi.

Hàm phân tuyến tính là hợp của một hàm affine với phép phối cảnh, nên cũng giữ tính lồi, với điều kiện tập đang xét nằm trọn trong miền mẫu số dương. Xác suất có điều kiện là một ví dụ: Ánh xạ từ phân phối đồng thời sang phân phối có điều kiện là phân tuyến tính.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to