Giao diện
Chủ đề cuối của chương trả lời câu hỏi mà một người học AI quan tâm nhất: Những bài toán huấn luyện nào là bài toán lồi, và vì sao? Tất cả công cụ đã có sẵn. Ta biết các cơ bản, biết các quy tắc lắp ghép, biết rằng với bài toán lồi, mọi cực tiểu cục bộ là toàn cục. Việc còn lại là học cách nhìn một mô hình học máy bằng con mắt của tối ưu lồi.
Điểm mấu chốt nằm ở một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: Lồi theo biến nào? Trong pha huấn luyện, dữ liệu đóng vai trò hằng số, còn trọng số mô hình mới chính là biến quyết định. Một hàm mất mát có thể lồi theo tham số dù nó phi tuyến đến đâu theo dữ liệu, và ngược lại, một đổi biến khéo có thể biến bài toán không lồi thành lồi. Ta sẽ đi từ các mô hình tuyến tính, qua hồi quy logistic và mạng nơ-ron hai tầng, tới một quy trình nhận diện dùng được hằng ngày.
1. Huấn luyện là ước lượng hợp lý cực đại
Rất nhiều hàm mất mát trong học máy không được chọn tùy tiện, mà sinh ra từ một mô hình xác suất. Giả sử dữ liệu tuân theo một phân phối
Xét mô hình đo tuyến tính với
Nếu
| Mô hình nhiễu | Mật độ | Bài toán ước lượng tương đương |
|---|---|---|
| Gauss | cực tiểu | |
| Laplace | cực tiểu | |
| Đều trên | hằng số trên đoạn | tìm |
Ba cách khớp đường thẳng ở chủ đề về hai dạng bài toán kinh điển tương ứng với ba giả thiết phân phối khác nhau về nhiễu. Bảng này cũng giải thích vì sao chuẩn
2. Hồi quy logistic: Phi tuyến theo dữ liệu, lồi theo tham số
Mô hình logistic dự đoán xác suất để nhãn bằng 1 là
Vì
của
Hệ số
Hồi quy logistic: một cái bát theo tham số (a, b)
Tại (a, b) = (2.00, −3.00): L = 0.7059. Hessian có trị riêng 0.4694 và 0.0156, cả hai không âm ở mọi điểm.
Nghiệm (vòng tròn rỗng): (a, b) ≈ (1.188, −2.673) với L ≈ 0.5281.
Gợi ý thao tác
- Với dữ liệu chồng lấn, kéo (a, b) quanh khung. Các đường mức có dạng gì, và có "thung lũng" thứ hai nào không?
- Chuyển sang dữ liệu tách được với λ = 0. Kéo (a, b) theo hướng (1, −2.25) và xem L thay đổi thế nào.
- Tăng λ từ 0 lên 0.3 với cả hai bộ dữ liệu. Nghiệm dịch chuyển về đâu, và đường cong xác suất bên phải dốc hơn hay thoải hơn?
Với dữ liệu chồng lấn, mô phỏng cho thấy hàm mất mát là một cái bát duy nhất, với nghiệm
Khi dữ liệu tách được, nghiệm biến mất. Với tám điểm mà bốn điểm đầu có nhãn 0 và bốn điểm sau có nhãn 1, mọi ngưỡng giữa
3. Mạng nơ-ron hai tầng không lồi
Giờ xét một mạng nơ-ron nhỏ nhất có thể: Một đầu vào vô hướng, hai nơ-ron ẩn dùng hàm ReLU, không có hệ số tự do:
Dữ liệu gồm hai điểm
Nếu
Lập luận này không phụ thuộc vào ví dụ cụ thể. Trong mọi mạng có từ hai nơ-ron ẩn trở lên trong một tầng, đổi chỗ hai nơ-ron cùng với các trọng số vào và ra của chúng cho một khác mà mạng tính đúng cùng một hàm. Nếu một nghiệm tốt dùng hai nơ-ron khác nhau thật sự, thì trung bình của nó với bản hoán vị làm hai nơ-ron trùng nhau, thường làm mất khả năng biểu diễn. Đối xứng hoán vị khiến hàm mất mát của mạng nơ-ron gần như không bao giờ lồi, bất kể hàm mất mát theo đầu ra lồi đến đâu. Chỗ hỏng nằm ở bước hợp hàm: Đầu ra của mạng không còn là hàm affine của tham số, vì tham số của hai tầng nhân với nhau.
4. Lồi theo từng khối và lồi theo biến nào
Cố định một tầng, phần còn lại có thể lồi. Trong mạng ở mục 3, nếu giữ nguyên
Đổi biến có thể tạo ra hoặc phá đi tính lồi. Muốn khớp một số dương
5. Quy trình nhận diện tính lồi
Tóm lược lại, quy trình chuẩn mực phân tích tính lồi của một mô hình học máy bao gồm các bước sau:
- Xác định biến. Viết rõ đâu là , đâu là dữ liệu và siêu tham số cố định.
- Xem đầu ra của mô hình phụ thuộc thế nào. Nếu nó là hàm affine của tham số, như hồi quy tuyến tính, logistic, softmax, máy hỗ trợ tuyến tính, thì bài toán có cơ hội lồi. Nếu tham số nhân với nhau, như các tầng của mạng nơ-ron hay hai nhân tử của một phân tích , hãy chuẩn bị cho một bài toán không lồi và tìm đối xứng để chứng minh nhanh.
- Kiểm tra hàm mất mát theo đầu ra. Bình phương, trị tuyệt đối, Huber, hinge, logistic, entropy chéo theo logit đều lồi theo đầu ra, nên hợp với một đầu ra affine vẫn lồi.
- Kiểm tra điều chuẩn và ràng buộc. Chuẩn và bình phương chuẩn lồi. Ràng buộc phải viết được bằng bất đẳng thức của và đẳng thức affine.
- Nghĩ tới chuyện tồn tại và duy nhất. Bài toán lồi vẫn có thể không có nghiệm, như hồi quy logistic trên dữ liệu tách được, hoặc có vô số nghiệm, như đặc trưng cộng tuyến. Điều chuẩn lồi mạnh giải quyết cả hai.
| Mô hình | Lồi theo ? | Lý do chính |
|---|---|---|
| Hồi quy tuyến tính, ridge, Lasso | có | mất mát lồi hợp với đầu ra affine, cộng chuẩn |
| Hồi quy logistic và softmax | có | softplus và log-sum-exp hợp với đầu ra affine |
| Máy hỗ trợ tuyến tính | có | hinge là max của hai hàm affine |
| Hồi quy Poisson với hàm liên kết mũ | có | |
| Mạng nơ-ron từ hai nơ-ron ẩn | không | đối xứng hoán vị, các tầng nhân nhau |
| Phân tích | không đồng thời, có theo từng nhân tử | tích của hai nhóm |
Khi bài toán không lồi, những gì học trong chương vẫn hữu ích. Gần một cực tiểu cục bộ có xác định dương, hàm mất mát cư xử như một , nên các phân tích cục bộ vẫn dùng được. Nhiều thuật toán cho bài toán không lồi chia nhỏ thành các bài toán con lồi, như tối ưu từng khối. Và đôi khi ta thay bài toán không lồi bằng một bài toán lồi gần với nó, một kỹ thuật gọi là nới lỏng lồi, mà các chương sau sẽ gặp lại.
6. Những câu hỏi để đào sâu
Câu 1. Hàm mất mát của hồi quy logistic có lồi theo dữ liệu
Xem lời giải thích
Nói chung là không, nhưng điều đó không quan trọng. Khi huấn luyện,
Câu 2. Khi lược bỏ hàm kích hoạt phi tuyến ReLU, mạng nơ-ron hai tầng trở thành một hàm tuyến tính
Xem lời giải thích
Không, và lập luận hoán vị vẫn dùng được. Lấy đầu vào hai chiều, hai nơ-ron ẩn, và dữ liệu gồm hai điểm
Câu 3. Vì sao điều chuẩn
Xem lời giải thích
Hàm
Câu 4. Nếu hàm mất mát của mạng nơ-ron không lồi, vì sao phương pháp vẫn thường tìm được những tốt trong thực tế?
Xem lời giải thích
Đây là một câu hỏi nghiên cứu còn mở, và chương này không có câu trả lời đầy đủ. Điều chương này cho ta là ngôn ngữ để đặt câu hỏi cho đúng: Hàm mất mát có nhiều cực tiểu cục bộ không, các cực tiểu có tốt ngang nhau không, các điểm dừng tồi có phải chủ yếu là điểm yên ngựa mà phương pháp có nhiễu dễ thoát ra không. Đối xứng hoán vị ở mục 3 cho thấy các cực tiểu toàn cục thường đến thành từng nhóm tương đương nhau, nên "nhiều cực tiểu" chưa chắc là điều xấu. Nhưng mọi khẳng định mạnh hơn đều cần giả thiết riêng về kiến trúc và dữ liệu.
7. Bài tập tự luyện
Bài tập 1: Hồi quy Poisson
Số sự kiện
Lời giải
(a) Xác suất của
Bài tập 2: Đối xứng hoán vị bằng số
Với mạng và dữ liệu ở mục 3, tính hàm mất mát tại các điểm
Lời giải
Tại
Bài tập 3: Đổi biến
Cho
Lời giải
(a)
Tóm tắt
Khi huấn luyện, là biến và dữ liệu là hằng số, nên tính lồi phải được xét theo tham số. Ước lượng hợp lý cực đại với mô hình tuyến tính và nhiễu có mật độ log-lõm là bài toán lồi, trong đó nhiễu Gauss, Laplace và đều lần lượt cho , chuẩn
Mạng nơ-ron không lồi vì các tầng nhân với nhau, và đối xứng hoán vị cho một phản ví dụ chỉ bằng vài phép tính. Cố định một tầng thì phần còn lại có thể lồi, và một phép đổi biến phi tuyến có thể tạo ra hoặc phá đi tính lồi. Quy trình nhận diện đi từ việc xác định biến, xem đầu ra phụ thuộc tham số ra sao, kiểm tra hàm mất mát, điều chuẩn và ràng buộc, tới câu hỏi tồn tại và duy nhất nghiệm.
Tài liệu tham khảo
- Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.