Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Chủ đề 25 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Chủ đề cuối của chương trả lời câu hỏi mà một người học AI quan tâm nhất: Những bài toán huấn luyện nào là bài toán lồi, và vì sao? Tất cả công cụ đã có sẵn. Ta biết các cơ bản, biết các quy tắc lắp ghép, biết rằng với bài toán lồi, mọi cực tiểu cục bộ là toàn cục. Việc còn lại là học cách nhìn một mô hình học máy bằng con mắt của tối ưu lồi.

Điểm mấu chốt nằm ở một câu hỏi tưởng chừng đơn giản: Lồi theo biến nào? Trong pha huấn luyện, dữ liệu đóng vai trò hằng số, còn trọng số mô hình mới chính là biến quyết định. Một hàm mất mát có thể lồi theo tham số dù nó phi tuyến đến đâu theo dữ liệu, và ngược lại, một đổi biến khéo có thể biến bài toán không lồi thành lồi. Ta sẽ đi từ các mô hình tuyến tính, qua hồi quy logistic và mạng nơ-ron hai tầng, tới một quy trình nhận diện dùng được hằng ngày.

1. Huấn luyện là ước lượng hợp lý cực đại ​

Rất nhiều hàm mất mát trong học máy không được chọn tùy tiện, mà sinh ra từ một mô hình xác suất. Giả sử dữ liệu tuân theo một phân phối pθ phụ thuộc θ. Ước lượng hợp lý cực đại (Maximum Estimation - MLE) chọn θ làm cực đại log-likelihood l(θ)=log⁡pθ(data). Theo nguyên lý tối ưu, bài toán ước lượng này là bài toán lồi khi log-likelihood l(θ) là một hàm lõm theo tham số θ và tập các ràng buộc đặt lên θ là .

Xét mô hình đo tuyến tính với m quan sát: Phương trình yi=aiTx+vi với i=1,…,m, trong đó x∈Rn là cần ước lượng và các thành phần nhiễu vi độc lập, cùng phân phối với hàm mật độ xác suất p(v). Do tính độc lập, chung là tích các mật độ ∏i=1mp(yi−aiTx), dẫn đến log-likelihood có dạng tổng tường minh:

l(x)=∑i=1mlog⁡p(yi−aiTx)=log⁡p(y1−a1Tx)+log⁡p(y2−a2Tx)+⋯+log⁡p(ym−amTx).

Nếu log⁡p là một hàm lõm (tức mật độ p là log-lõm), thì mỗi số hạng log⁡p(yi−aiTx) là phép hợp của hàm lõm với hàm affine theo x, do đó tổng l(x) là hàm lõm và bài toán ước lượng trở thành bài toán lồi. Bài toán cực tiểu hàm mất mát tương đương là cực tiểu −log⁡p áp lên từng phần dư ri=yi−aiTx. Xét ba trường hợp phân phối nhiễu kinh điển sau:

Mô hình nhiễuMật độ p(z) tỉ lệ vớiBài toán ước lượng tương đương
Gausse−z2/2σ2cực tiểu |Ax−y|22,
Laplacee−|z|/acực tiểu |Ax−y|1
Đều trên [−a,a]hằng số trên đoạntìm x với |Ax−y|∞≤a

Ba cách khớp đường thẳng ở chủ đề về hai dạng bài toán kinh điển tương ứng với ba giả thiết phân phối khác nhau về nhiễu. Bảng này cũng giải thích vì sao chuẩn ℓ1 bền vững với điểm ngoại lai: Mật độ Laplace có đuôi dày hơn mật độ Gauss, tức coi phần dư lớn là chuyện có thể xảy ra, nên ước lượng tương ứng không cố bẻ cong nghiệm để giảm một phần dư lớn. Ngược lại, mọi hàm phạt lồi ϕ áp lên phần dư đều có thể đọc như ước lượng hợp lý cực đại với mật độ nhiễu tỉ lệ với e−ϕ(z).

2. Hồi quy logistic: Phi tuyến theo dữ liệu, lồi theo tham số ​

Mô hình logistic dự đoán xác suất để nhãn bằng 1 là p=σ(aTu+b), với σ(t)=1/(1+e−t). Hàm sigmoid uốn cong theo u, vậy mà bài toán ước lượng (a,b) là bài toán lồi. Cách thấy nhanh nhất là đọc hàm mất mát từ trong ra ngoài như ở chủ đề các phép toán giữ tính lồi. Đặt zi=aTui+b, một hàm affine của (a,b). Log- là

l(a,b)=∑i:yi=1log⁡σ(zi)+∑i:yi=0log⁡(1−σ(zi)).

Vì log⁡σ(z)=−log⁡(1+e−z) và log⁡(1−σ(z))=−log⁡(1+ez), mỗi số hạng là âm của hàm softplus, một hàm lõm, hợp với hàm affine zi của . Do đó l(a,b) là hàm lõm, và bài toán cực đại hóa nó (hoặc cực tiểu hóa âm log-) chính là một bài toán tối ưu lồi. Viết với nhãn si=±1, ta cực tiểu

L(a,b)=1m∑i=1mlog⁡(1+e−si(aTui+b)).

của L cũng có một dạng đẹp. Với u~i=(ui,1) và pi=σ(zi),

∇2L=1m∑i=1mpi(1−pi)u~iu~iT⪰0.

Hệ số pi(1−pi) là phương sai của một biến Bernoulli với xác suất pi, và mỗi số hạng là một hạng một. Đây là cùng một cấu trúc " là một phương sai" đã gặp với log-sum-exp.

Hồi quy logistic: một cái bát theo tham số (a, b)

abp(u) = σ(a·u + b)u

Tại (a, b) = (2.00, −3.00): L = 0.7059. Hessian có trị riêng 0.4694 và 0.0156, cả hai không âm ở mọi điểm.

Nghiệm (vòng tròn rỗng): (a, b) ≈ (1.188, −2.673) với L ≈ 0.5281.

Gợi ý thao tác
  1. Với dữ liệu chồng lấn, kéo (a, b) quanh khung. Các đường mức có dạng gì, và có "thung lũng" thứ hai nào không?
  2. Chuyển sang dữ liệu tách được với λ = 0. Kéo (a, b) theo hướng (1, −2.25) và xem L thay đổi thế nào.
  3. Tăng λ từ 0 lên 0.3 với cả hai bộ dữ liệu. Nghiệm dịch chuyển về đâu, và đường cong xác suất bên phải dốc hơn hay thoải hơn?

Với dữ liệu chồng lấn, mô phỏng cho thấy hàm mất mát là một cái bát duy nhất, với nghiệm (a,b)≈(1.188, −2.673) và giá trị nhỏ nhất xấp xỉ 0.528. Không có thung lũng thứ hai nào, đúng như định lý cục bộ và toàn cục dự báo.

Khi dữ liệu tách được, nghiệm biến mất. Với tám điểm mà bốn điểm đầu có nhãn 0 và bốn điểm sau có nhãn 1, mọi ngưỡng giữa u=2 và u=2.5 đều phân loại đúng hết. Đi theo hướng (a,b)=t(1,−2.25), ngưỡng −b/a=2.25 giữ nguyên còn đường sigmoid dốc dần, và hàm mất mát giảm mãi: Xấp xỉ 0.344 khi t=1, 0.092 khi t=4, 0.0045 khi t=16, nhưng không bao giờ bằng 0. Bài toán lồi, có cận dưới bằng 0, mà không có nghiệm, đúng tình huống " không bao giờ bằng 0" ở chủ đề điều kiện bậc nhất. Thêm điều chuẩn λ2∥(a,b)∥22 với λ>0 làm mạnh, và nghiệm xuất hiện trở lại: Với λ=0.05, nghiệm là (a,b)≈(0.954, −1.705).

3. Mạng nơ-ron hai tầng không lồi ​

Giờ xét một mạng nơ-ron nhỏ nhất có thể: Một đầu vào vô hướng, hai nơ-ron ẩn dùng hàm ReLU, không có hệ số tự do:

fθ(x)=v1max{0, w1x}+v2max{0, w2x},θ=(w1,v1,w2,v2).

Dữ liệu gồm hai điểm (x,y)=(−1,1) và (1,1), và hàm mất mát là sai số bình phương trung bình. θA=(1,1,−1,1) cho f(x)=max{0,x}+max{0,−x}=|x|, khớp hoàn hảo cả hai điểm, nên L(θA)=0. Đổi chỗ hai nơ-ron ẩn, tức đổi vai (w1,v1) với (w2,v2), ta được θB=(−1,1,1,1), vẫn biểu diễn đúng hàm |x|, nên L(θB)=0.

Nếu L lồi theo θ, trung điểm 12(θA+θB)=(0,1,0,1) phải có L≤0. Nhưng tại đó w1=w2=0, mạng xuất ra hằng số 0, và L=1. Đi dọc đoạn thẳng từ θA tới θB, hàm mất mát lần lượt bằng 0, 0.25, 1, 0.25, 0 tại năm điểm chia đều. Hàm mất mát có hai cực tiểu toàn cục tách rời với một "bướu" ở giữa, hình ảnh đặc trưng của bài toán không lồi.

Lập luận này không phụ thuộc vào ví dụ cụ thể. Trong mọi mạng có từ hai nơ-ron ẩn trở lên trong một tầng, đổi chỗ hai nơ-ron cùng với các trọng số vào và ra của chúng cho một khác mà mạng tính đúng cùng một hàm. Nếu một nghiệm tốt dùng hai nơ-ron khác nhau thật sự, thì trung bình của nó với bản hoán vị làm hai nơ-ron trùng nhau, thường làm mất khả năng biểu diễn. Đối xứng hoán vị khiến hàm mất mát của mạng nơ-ron gần như không bao giờ lồi, bất kể hàm mất mát theo đầu ra lồi đến đâu. Chỗ hỏng nằm ở bước hợp hàm: Đầu ra của mạng không còn là hàm affine của tham số, vì tham số của hai tầng nhân với nhau.

4. Lồi theo từng khối và lồi theo biến nào ​

Cố định một tầng, phần còn lại có thể lồi. Trong mạng ở mục 3, nếu giữ nguyên w1,w2 thì fθ(x) là hàm tuyến tính theo (v1,v2), với các "đặc trưng" max{0,w1x} và max{0,w2x} cố định. Hàm mất mát khi đó là theo (v1,v2), một bài toán lồi. Đây là lý do huấn luyện riêng tầng cuối trên những đặc trưng đã có, như khi tinh chỉnh đầu ra của một mạng đã huấn luyện sẵn, là bài toán lồi. Nhưng như chủ đề các phép toán giữ tính lồi đã cảnh báo, lồi theo từng khối không suy ra lồi đồng thời, và tối ưu luân phiên từng khối có thể dừng ở điểm không tối ưu.

Đổi biến có thể tạo ra hoặc phá đi tính lồi. Muốn khớp một số dương c với giá trị đo được 2 bằng sai số bình phương, ta có thể viết c=eθ để bảo đảm c>0. Theo biến c, hàm mất mát (c−2)2 lồi. Theo biến θ, hàm (eθ−2)2 có đạo hàm bậc hai 4eθ(eθ−1), âm khi θ<0, nên không lồi. Chẳng hạn, tại trung điểm −1.5 của đoạn [−3,0], hàm bằng khoảng 3.157, lớn hơn trung bình 2.402 của hai đầu mút. Cùng một mô hình, cùng một dữ liệu, chỉ khác cách đặt . Ví dụ ngược chiều đã gặp ở chủ đề các thường gặp: Log- Gauss không lõm theo hiệp phương sai R, nhưng lõm theo ma trận nghịch đảo R−1. Phép đổi biến affine thì luôn giữ tính lồi, còn phép đổi biến phi tuyến thì phải kiểm tra lại từ đầu.

5. Quy trình nhận diện tính lồi ​

Tóm lược lại, quy trình chuẩn mực phân tích tính lồi của một mô hình học máy bao gồm các bước sau:

  1. Xác định biến. Viết rõ đâu là , đâu là dữ liệu và siêu tham số cố định.
  2. Xem đầu ra của mô hình phụ thuộc thế nào. Nếu nó là hàm affine của tham số, như hồi quy tuyến tính, logistic, softmax, máy hỗ trợ tuyến tính, thì bài toán có cơ hội lồi. Nếu tham số nhân với nhau, như các tầng của mạng nơ-ron hay hai nhân tử của một phân tích , hãy chuẩn bị cho một bài toán không lồi và tìm đối xứng để chứng minh nhanh.
  3. Kiểm tra hàm mất mát theo đầu ra. Bình phương, trị tuyệt đối, Huber, hinge, logistic, entropy chéo theo logit đều lồi theo đầu ra, nên hợp với một đầu ra affine vẫn lồi.
  4. Kiểm tra điều chuẩn và ràng buộc. Chuẩn và bình phương chuẩn lồi. Ràng buộc phải viết được bằng bất đẳng thức của và đẳng thức affine.
  5. Nghĩ tới chuyện tồn tại và duy nhất. Bài toán lồi vẫn có thể không có nghiệm, như hồi quy logistic trên dữ liệu tách được, hoặc có vô số nghiệm, như đặc trưng cộng tuyến. Điều chuẩn lồi mạnh giải quyết cả hai.
Mô hìnhLồi theo ?Lý do chính
Hồi quy tuyến tính, ridge, Lassocómất mát lồi hợp với đầu ra affine, cộng chuẩn
Hồi quy logistic và softmaxcósoftplus và log-sum-exp hợp với đầu ra affine
Máy hỗ trợ tuyến tínhcóhinge là max của hai hàm affine
Hồi quy Poisson với hàm liên kết mũcóμ=eaTu+b, log- lõm theo (a,b)
Mạng nơ-ron từ hai nơ-ron ẩnkhôngđối xứng hoán vị, các tầng nhân nhau
Phân tích UVTkhông đồng thời, có theo từng nhân tửtích của hai nhóm

Khi bài toán không lồi, những gì học trong chương vẫn hữu ích. Gần một cực tiểu cục bộ có xác định dương, hàm mất mát cư xử như một , nên các phân tích cục bộ vẫn dùng được. Nhiều thuật toán cho bài toán không lồi chia nhỏ thành các bài toán con lồi, như tối ưu từng khối. Và đôi khi ta thay bài toán không lồi bằng một bài toán lồi gần với nó, một kỹ thuật gọi là nới lỏng lồi, mà các chương sau sẽ gặp lại.

6. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Hàm mất mát của hồi quy logistic có lồi theo dữ liệu ui không? Điều đó có quan trọng không?

Xem lời giải thích

Nói chung là không, nhưng điều đó không quan trọng. Khi huấn luyện, ui là hằng số, ta không tối ưu theo nó. Tính lồi là tính chất của hàm theo biến của bài toán tối ưu, và ở đây biến là (a,b). Câu hỏi "lồi theo dữ liệu" chỉ có ý nghĩa trong những bài toán mà ta tối ưu theo dữ liệu, chẳng hạn khi tìm một đầu vào gây nhầm lẫn cho mô hình đã huấn luyện xong. Khi đó vai trò đổi ngược, là hằng số và đầu vào là biến.

Câu 2. Khi lược bỏ hàm kích hoạt phi tuyến ReLU, mạng nơ-ron hai tầng trở thành một hàm tuyến tính f(x)=W2W1x, cùng họ hàm biểu diễn với hồi quy tuyến tính. Hàm mất mát bình phương khi đó có lồi theo cặp (W1,W2) không?

Xem lời giải thích

Không, và lập luận hoán vị vẫn dùng được. Lấy đầu vào hai chiều, hai nơ-ron ẩn, và dữ liệu gồm hai điểm e1=(1,0) với nhãn 1, e2=(0,1) với nhãn 2, tức hàm cần học là x1+2x2. W1=I, W2=(1,2) cho tích W2W1=(1,2), khớp hoàn hảo. Đổi chỗ hai nơ-ron ẩn được W1′=[0110], W2′=(2,1), có cùng tích (1,2), nên cũng khớp hoàn hảo. Trung điểm có W1 với mọi phần tử bằng 0.5 và W2=(1.5,1.5), cho tích (1.5,1.5), dự đoán 1.5 ở cả hai điểm, và mất mát trung bình 0.25>0. Điều thú vị là nếu lấy biến là tích W=W2W1, bài toán là theo W, hoàn toàn lồi. Tính không lồi ở đây không xuất phát từ họ hàm biểu diễn, mà phát sinh trực tiếp từ cách đặt tham số hóa, phản ánh đúng bản chất của câu hỏi "lồi theo biến nào" ở Mục 4.

Câu 3. Vì sao điều chuẩn ℓ2 làm hồi quy logistic có nghiệm duy nhất, kể cả khi dữ liệu tách được?

Xem lời giải thích

Hàm L(a,b)+λ2∥(a,b)∥22 có ⪰λI, nên lồi mạnh. mạnh tăng ít nhất như một parabol khi chạy ra xa, nên mọi tập mức dưới đều bị chặn, và cực tiểu đạt được. Tính lồi nghiêm ngặt cho nghiệm duy nhất. Về trực giác, điều chuẩn "đánh thuế" độ lớn của tham số, nên không còn lợi khi cho đường sigmoid dốc mãi. Trong mô phỏng, tăng λ làm nghiệm lùi về gần gốc và đường cong xác suất thoải hơn.

Câu 4. Nếu hàm mất mát của mạng nơ-ron không lồi, vì sao phương pháp vẫn thường tìm được những tốt trong thực tế?

Xem lời giải thích

Đây là một câu hỏi nghiên cứu còn mở, và chương này không có câu trả lời đầy đủ. Điều chương này cho ta là ngôn ngữ để đặt câu hỏi cho đúng: Hàm mất mát có nhiều cực tiểu cục bộ không, các cực tiểu có tốt ngang nhau không, các điểm dừng tồi có phải chủ yếu là điểm yên ngựa mà phương pháp có nhiễu dễ thoát ra không. Đối xứng hoán vị ở mục 3 cho thấy các cực tiểu toàn cục thường đến thành từng nhóm tương đương nhau, nên "nhiều cực tiểu" chưa chắc là điều xấu. Nhưng mọi khẳng định mạnh hơn đều cần giả thiết riêng về kiến trúc và dữ liệu.

7. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Hồi quy Poisson

Số sự kiện yi∈{0,1,2,…} được mô hình hóa bằng phân phối Poisson với trung bình μi=eaTui+b. (a) Viết log- theo (a,b), bỏ các hằng số không phụ thuộc . (b) Chứng minh nó lõm. (c) Nếu thay vì hàm liên kết mũ, ta dùng trực tiếp trung bình affine μi=aTui+b, log-likelihood có còn lõm không, và cần thêm điều kiện gì về miền xác định?

Lời giải

(a) Xác suất của yi là e−μiμiyi/yi!, nên log- là ∑i(yilog⁡μi−μi) cộng hằng số. Với μi=ezi và zi=aTui+b, nó trở thành ∑i(yizi−ezi). (b) yizi là hàm affine của , còn −ezi là âm của một hợp với hàm affine, nên lõm. Tổng là hàm lõm. (c) Với μi=aTui+b, log-likelihood trở thành ∑i=1m(yilog⁡(aTui+b)−(aTui+b)). Vì yi≥0, mỗi số hạng yilog⁡(⋅) là phép hợp giữa hàm lõm log với hàm affine nhân hệ số không âm, còn −(aTui+b) là hàm affine, do đó từng số hạng đều lõm và tổng vẫn là một hàm lõm. Điều kiện bổ sung nằm ở miền xác định: Ta cần aTui+b>0 với mọi mẫu i có yi>0. Miền xác định này là một vì nó là giao của các nửa không gian mở.

Bài tập 2: Đối xứng hoán vị bằng số

Với mạng và dữ liệu ở mục 3, tính hàm mất mát tại các điểm θ(t)=(1−t)θA+tθB với t=0.25 và t=0.5. Tại t=0.25, mạng tính hàm gì?

Lời giải

θ(t)=(1−2t, 1, −1+2t, 1). Với t=0.25, θ=(0.5,1,−0.5,1), và mạng tính

f(x)=max{0, 0.5x}+max{0, −0.5x}=0.5|x|.

Tại x=±1, f=0.5, sai số bình phương mỗi điểm là 0.25, nên L=0.25. Với t=0.5, θ=(0,1,0,1), mạng xuất ra 0, và L=1. Dọc đoạn θA→θB, mạng tính |1−2t|⋅|x|, co lại về 0 ở giữa rồi giãn ra lại, nên hàm mất mát có dạng (1−|1−2t|)2: Bằng 0 ở hai đầu và bằng 1 ở giữa.

Bài tập 3: Đổi biến

Cho g(θ)=(eθ−2)2. (a) Tìm tập các θ mà g″(θ)≥0. (b) Chứng minh g vẫn có duy nhất một điểm dừng và đó là cực tiểu toàn cục, dù g không lồi. (c) Điều này có mâu thuẫn với nhận xét "không lồi thì có thể có cực tiểu cục bộ tồi" không?

Lời giải

(a) g′(θ)=2(eθ−2)eθ và g″(θ)=4e2θ−4eθ=4eθ(eθ−1), không âm khi và chỉ khi θ≥0. (b) g′(θ)=0 khi và chỉ khi eθ=2, tức θ=log⁡2, vì eθ>0. Tại đó g=0≤g(θ) với mọi θ, nên là cực tiểu toàn cục. (c) Không mâu thuẫn. Không lồi chỉ có nghĩa là mất bảo đảm tổng quát, chứ không có nghĩa là chắc chắn có cực tiểu cục bộ tồi. Ở đây g=h∘exp với h(c)=(c−2)2 lồi và exp là một song ánh tăng từ R lên (0,∞), nên mọi tính chất "chỉ có một thung lũng" của h được giữ nguyên, dù độ cong thì không. Những hàm như vậy thuộc lớp tựa lồi.

Tóm tắt ​

Khi huấn luyện, là biến và dữ liệu là hằng số, nên tính lồi phải được xét theo tham số. Ước lượng hợp lý cực đại với mô hình tuyến tính và nhiễu có mật độ log-lõm là bài toán lồi, trong đó nhiễu Gauss, Laplace và đều lần lượt cho , chuẩn ℓ1 và chuẩn ℓ∞. Hồi quy logistic phi tuyến theo dữ liệu nhưng lồi theo tham số, có là tổng các phương sai Bernoulli nhân hạng một, và không có nghiệm hữu hạn khi dữ liệu tách được nếu thiếu điều chuẩn.

Mạng nơ-ron không lồi vì các tầng nhân với nhau, và đối xứng hoán vị cho một phản ví dụ chỉ bằng vài phép tính. Cố định một tầng thì phần còn lại có thể lồi, và một phép đổi biến phi tuyến có thể tạo ra hoặc phá đi tính lồi. Quy trình nhận diện đi từ việc xác định biến, xem đầu ra phụ thuộc tham số ra sao, kiểm tra hàm mất mát, điều chuẩn và ràng buộc, tới câu hỏi tồn tại và duy nhất nghiệm.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to