Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi

Chủ đề 5 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Ở chủ đề về tập affine, chúng ta đã chứng kiến cách biểu thức θx1+(1−θ)x2 quét qua toàn bộ một đường thẳng vô hạn khi tham số θ nhận giá trị tùy ý trên toàn trục số thực R. Đồng thời, biểu thức đó chỉ giới hạn trong một đoạn thẳng hữu hạn nối hai đầu mút x1 và x2 khi tham số θ bị chặn trong đoạn đơn vị [0,1]. Tập affine đòi hỏi việc bảo toàn các đường thẳng kéo dài vô tận. Câu hỏi tự nhiên và cốt lõi đặt ra là: Điều gì sẽ xảy ra nếu ta xây dựng một cấu trúc hình học mới chỉ dựa trên các đoạn thẳng?

Câu trả lời cho câu hỏi đó chính là khái niệm trung tâm của toàn bộ lý thuyết tối ưu hóa hiện đại: . Một được gọi là lồi nếu nó chứa trọn vẹn đoạn thẳng nối hai điểm bất kỳ thuộc tập hợp đó. Định nghĩa này thoạt nhìn rất mộc mạc và trực quan, nhưng lại là khởi nguồn của hầu hết các tính chất tuyệt vời của tối ưu hóa lồi: Mọi điểm cực tiểu cục bộ đều là điểm cực tiểu toàn cục, lý thuyết đối ngẫu Lagrange đạt trạng thái không có khoảng cách đối ngẫu (zero duality gap), và các thuật toán hạ luôn đảm bảo hội tụ. Bài học này giúp bạn đọc làm chủ trực giác hình học, rèn luyện kỹ năng chứng minh và bác bỏ tính lồi, đồng thời mở rộng khái niệm từ hữu hạn sang bao lồi, định lý Carathéodory và các phép trộn xác suất liên tục.

1. Định nghĩa và trực giác hình học: Tầm nhìn không bị che khuất ​

Ta bắt đầu bằng định nghĩa toán học chính xác của trong không gian Euclid:

Định nghĩa. Một C⊆Rn được gọi là nếu với mọi cặp điểm x1,x2∈C và với mọi hệ số θ∈[0,1], ta luôn có:

θx1+(1−θ)x2∈C

Về mặt hình học trực quan, ta có một cách hình dung rất tự nhiên: Một là lồi nếu mọi điểm nằm bên trong tập hợp đều nhìn thấy mọi điểm khác theo một đường ngắm thẳng hoàn toàn không bị che khuất. Ở đây, "không bị che khuất" đồng nghĩa với việc toàn bộ tia sáng thẳng nối giữa hai điểm quan sát phải nằm trọn vẹn bên trong tập hợp, không bị đứt đoạn hay cắt ngang qua bất kỳ khoảng trống bên ngoài nào.

Hãy xem xét hai căn phòng kiến trúc quen thuộc để thấy rõ sự khác biệt:

  • Căn phòng hình chữ nhật lồi: Một người đứng ở bất kỳ vị trí hay góc nào của căn phòng cũng có thể quan sát trọn vẹn bất kỳ góc nào khác, vì đoạn thẳng nối hai điểm luôn nằm bên trong phòng.
  • Căn phòng hình chữ L không lồi: Đứng ở điểm cuối của nhánh nằm ngang, tầm nhìn của người quan sát tới điểm cuối của nhánh thẳng đứng sẽ bị góc tường vuông nhô ra ở giữa che khuất. Đoạn thẳng nối hai vị trí đó phải cắt xuyên qua bức tường và đi ra ngoài không gian căn phòng.

So sánh với định nghĩa của tập affine, sự khác biệt duy nhất nằm ở miền giá trị hợp lệ của θ:

  • Tập affine đòi hỏi tính chất bảo toàn với mọi θ∈R.
  • chỉ đòi hỏi tính chất bảo toàn với θ∈[0,1].

Bởi vì điều kiện của lỏng hơn rất nhiều so với tập affine ([0,1]⊂R), ta rút ra một định lý bao hàm căn bản: Mọi tập affine đều là tập lồi. Chiều ngược lại hoàn toàn không đúng: Một đoạn thẳng, một hình tròn đặc, một tam giác đặc hay một khối cầu đa chiều đều là các tập lồi nhưng tuyệt đối không phải là tập affine.

Đoạn nối hai điểm có ở lại trong tập không?

xy

Khoảng 60% đoạn [x, y] nằm ngoài tập. Chỉ một cặp điểm như vậy là đủ để kết luận tập không lồi.

Hình đang chọn không lồi: hãy tìm thêm những cặp điểm khác làm đoạn nối đi ra ngoài.

Gợi ý thao tác
  1. Với hình trăng khuyết, tìm một cặp điểm làm đoạn nối cắt qua phần bị khoét. Có cặp điểm nào mà đoạn nối vẫn nằm trong tập không?
  2. Với ngôi sao, đặt hai điểm ở đầu hai cánh kề nhau. Rồi đặt chúng ở đầu hai cánh đối nhau. Trường hợp nào đoạn nối đi ra ngoài?
  3. Với lục giác và elip, cố gắng làm đoạn nối đi ra ngoài. Vì sao bạn không làm được?

2. Phương pháp chứng minh và bác bỏ tính lồi ​

Cấu trúc logic của định nghĩa chứa hai lượng từ "với mọi" liên tiếp (∀x1,x2∈C và ∀θ∈[0,1]). Điều này tạo nên một tính chất bất đối xứng sâu sắc trong phương pháp luận suy diễn toán học:

  • Để bác bỏ tính lồi của một : Ta chỉ cần tìm ra duy nhất một phản ví dụ, nghĩa là chỉ ra một cặp điểm cụ thể x1,x2∈C cùng một giá trị θ∈[0,1] sao cho điểm θx1+(1−θ)x2 văng ra khỏi tập hợp.
  • Để chứng minh tính lồi của một : Bắt buộc phải xây dựng một lập luận giải tích tổng quát, chứng minh rằng điều kiện lồi được thỏa mãn cho mọi cặp điểm tùy ý và mọi hệ số θ∈[0,1].

Bác bỏ tính lồi bằng phản ví dụ ​

Xem xét hai bài toán điển hình minh họa cho việc bác bỏ:

Ví dụ 1: Đường tròn rỗng ruột. Xét đường tròn trong mặt phẳng R2:

S={x∈R2∣x12+x22=1}

này không lồi. Chọn hai điểm đối xứng qua gốc tọa độ: Điểm x1=(1,0)∈S (vì 12+02=1) và điểm x2=(−1,0)∈S (vì (−1)2+02=1). Chọn hệ số θ=12. Điểm tổ hợp tương ứng là trung điểm của đoạn thẳng:

xm=12(1,0)+12(−1,0)=(0,0)

Thử vào phương trình xác định : 02+02=0≠1. Do đó trung điểm xm∉S, chứng minh rằng đường tròn không phải .

Ví dụ 2: Miền quyết định rời rạc trong học máy. Xét các biến nhị phân trong R2:

D={0,1}2={(0,0),(0,1),(1,0),(1,1)}

Tập này thường xuất hiện khi mô hình học máy cần lựa chọn bật hoặc tắt các đặc trưng (feature selection). Tập D không lồi: Điểm (0,0)∈D và điểm (1,1)∈D, nhưng trung điểm (12,12) rõ ràng không thuộc D. Các bài toán tối ưu với biến nguyên hoặc biến nhị phân rất khó giải quyết trong lý thuyết độ phức tạp tính toán chính vì của chúng thiếu tính lồi, buộc các nhà nghiên cứu phải tìm đến kỹ thuật nới lỏng lồi.

Chứng minh tính lồi bằng lập luận giải tích ​

Xét hình tròn đặc (hình cầu đóng theo ) trong Rn:

B={x∈Rn∣∥x∥2≤1}

Ta chứng minh B là : Lấy hai điểm tùy ý x1,x2∈B và một hệ số bất kỳ θ∈[0,1]. Theo giả thiết, ta có ∥x1∥2≤1 và ∥x2∥2≤1.

Áp dụng bất đẳng thức tam giác và tính thuần nhất tuyệt đối của :

∥θx1+(1−θ)x2∥2≤∥θx1∥2+∥(1−θ)x2∥2=|θ|∥x1∥2+|1−θ|∥x2∥2=θ∥x1∥2+(1−θ)∥x2∥2≤θ(1)+(1−θ)(1)=1

Trong chuỗi biến đổi trên, bước triệt tiêu dấu giá trị tuyệt đối |θ|=θ và |1−θ|=1−θ hoàn toàn dựa vào điều kiện θ≥0 và 1−θ≥0. Nếu θ nằm ngoài đoạn [0,1], bất đẳng thức sẽ lập tức bị phá vỡ. Vì chuẩn của điểm tổ hợp không vượt quá 1, điểm θx1+(1−θ)x2 thuộc B. Vậy hình cầu đóng là .

Cạm bẫy biên không trọn vẹn trong topo

Tính lồi của một không chỉ phụ thuộc vào "hình dạng bao quát" mà còn phụ thuộc rất nhạy cảm vào việc biên của tập hợp được giữ lại như thế nào.

Xét hình vuông mở U=(0,1)2 trong mặt phẳng. Bây giờ ta thêm vào này đúng hai điểm nằm trên cạnh đáy: Điểm A=(0.2,0) và điểm B=(0.8,0). Tập hợp mới U∪{A,B} trông có vẻ lồi, nhưng thực tế không lồi: Cả hai điểm A và B đều thuộc tập hợp, nhưng trung điểm M=A+B2=(0.5,0) nằm trên cạnh đáy và không thuộc tập hợp (vì cạnh đáy ban đầu bị bỏ khỏi U). Do đó, việc giữ lại một phần biên chắp vá sẽ phá hủy hoàn toàn tính lồi.

3. Tổ hợp lồi: Phép trộn tỷ lệ và phân phối xác suất ​

Tương tự như cách ta mở rộng tổ hợp affine từ hai điểm sang nhiều điểm, khái niệm đoạn thẳng cũng được tổng quát hóa một cách tự nhiên sang nhiều điểm:

Định nghĩa. Cho k điểm x1,…,xk∈Rn. Một điểm y được gọi là một (convex combination) của k điểm đó nếu nó được biểu diễn dưới dạng:

y=∑i=1kθixi=θ1x1+θ2x2+⋯+θkxk

trong đó các trọng số θ1,…,θk thỏa mãn đồng thời hai điều kiện:

∑i=1kθi=θ1+θ2+⋯+θk=1,θi≥0,∀i=1,…,k

Trực giác vật lý: Phép pha trộn thành phần ​

So với tổ hợp affine, bổ sung thêm đúng một điều kiện tiên quyết: Các trọng số θi không được phép nhận giá trị âm.

Hai ràng buộc ∑i=1kθi=1 và θi≥0 chính là các tiên đề định nghĩa một phân phối xác suất rời rạc trên k điểm. Về mặt vật lý và đời sống thường ngày, mô tả chính xác một phép pha trộn tỷ lệ (mixture), trong đó mỗi θi là tỷ lệ phần trăm đóng góp của thành phần xi:

∑i=1kθixi⏟blendwith∑i=1kθi=1⏟weights sum to 1,θi≥0⏟nonnegative

Chẳng hạn khi một barista pha một tách cà phê sữa gồm 30% cà phê nguyên chất (xcoffee) và 70% sữa tươi (xmilk), đặc tính hương vị của ly nước thu được chính là :

xdrink=0.3xcoffee+0.7xmilk

Vì các trọng số đều không âm và có tổng bằng 1, hương vị thu được không bao giờ vượt ra ngoài phổ hương vị vốn có của hai nguyên liệu ban đầu.

Định lý tương đương và chứng minh quy nạp ​

Định lý căn bản kết nối giữa định nghĩa hai điểm và tổ hợp nhiều điểm được phát biểu như sau:

Định lý. Một C⊆Rn là khi và chỉ khi nó chứa mọi của một số hữu hạn các điểm bất kỳ thuộc C.

Chứng minh: Chứng minh bằng phương pháp quy nạp toán học

Chiều đảo là hiển nhiên vì đoạn thẳng nối hai điểm chính là trường hợp cơ sở với k=2. Ta chứng minh chiều thuận bằng phương pháp quy nạp theo số điểm k:

  • Cơ sở quy nạp: Với k=1, y=1⋅x1=x1∈C. Với k=2, khẳng định đúng theo chính định nghĩa .

  • Giả thiết quy nạp: Giả sử khẳng định đúng với mọi của k−1 điểm thuộc C.

  • Bước quy nạp: Xét một của k điểm:

    y=∑i=1kθixi,,∑i=1kθi=1 and θi≥0

    Nếu θk=1, thì các hệ số còn lại θ1=⋯=θk−1=0, suy ra y=xk∈C. Nếu θk<1, ta có 1−θk>0. Ta tách số hạng thứ k ra ngoài và viết lại y dưới dạng:

    y=(1−θk)(∑i=1k−1θi1−θkxi)⏟z+θkxk

    Hãy kiểm tra các hệ số mới μi=θi1−θk trong biểu thức của z:

    1. Vì θi≥0 và 1−θk>0, ta có μi≥0 với mọi i=1,…,k−1.
    2. Tổng các hệ số:
      ∑i=1k−1μi=∑i=1k−1θi1−θk=11−θk∑i=1k−1θi=1−θk1−θk=1

    Như vậy điểm z là một của k−1 điểm x1,…,xk−1∈C. Theo giả thiết quy nạp, ta có z∈C.

    Cuối cùng, quan sát biểu thức tổng thể:

    y=(1−θk)z+θkxk

    Đây chính là của hai điểm z∈C và xk∈C với hai trọng số 1−θk≥0 và θk≥0 có tổng bằng 1. Theo định nghĩa với k=2, ta suy ra y∈C. Phép quy nạp hoàn tất.

4. Bao lồi và Định lý Carathéodory ​

Khi một S ban đầu không có tính lồi, ta hoàn toàn có thể "lồi hóa" nó bằng cách bổ sung toàn bộ các của các điểm thuộc S:

Định nghĩa. (convex hull) của một S⊆Rn, ký hiệu là convS, là tập hợp tất cả các tổ hợp lồi của các điểm thuộc S:

convS={∑i=1kθixi|xi∈S,∑i=1kθi=1,θi≥0,k≥1}

luôn luôn là một , và nó chính là tập lồi nhỏ nhất chứa S: Nếu B là một tập lồi bất kỳ chứa S (S⊆B), thì bắt buộc convS⊆B. Nói cách khác, bao lồi của S chính bằng giao của tất cả các tập lồi chứa S.

Trực giác sợi dây chun trong mặt phẳng ​

Đối với một tập hữu hạn các điểm trong mặt phẳng hai chiều R2, có một hình ảnh cơ học rất trực quan: Hãy tưởng tượng mỗi điểm dữ liệu là một chiếc đinh đóng thẳng đứng trên mặt bàn gỗ. Ta lấy một sợi dây chun co giãn kéo căng thật rộng bao quanh toàn bộ các chiếc đinh rồi thả tay ra. Dưới lực đàn hồi, sợi dây chun co lại và ôm sát lấy chùm đinh.

Hình đa giác khép kín được tạo bởi sợi dây chun cùng toàn bộ vùng mặt phẳng bên trong chính là convS. Những chiếc đinh chạm vào sợi dây chun chính là các điểm cực biên (đỉnh) của bao lồi, còn những chiếc đinh nằm sâu bên trong hoàn toàn không làm thay đổi hình dáng của bao lồi.

Bao lồi: sợi dây chun quanh các điểm

Bao lồi có 6 đỉnh trong tổng số 8 điểm. Các điểm màu vàng nằm bên trong và không phải đỉnh.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo một điểm bên trong ra ngoài bao lồi. Bao lồi thay đổi thế nào, và điểm đó có trở thành đỉnh không?
  2. Bấm lấy tổ hợp lồi ngẫu nhiên nhiều lần. Điểm vàng có bao giờ ra ngoài vùng tô không?
  3. Kéo một đỉnh vào bên trong. Đỉnh đó còn ảnh hưởng tới hình dạng bao lồi không?

Ví dụ: Tính tọa độ trọng tâm và kiểm tra bao lồi tam giác

Trong mặt phẳng R2, xét tam giác tạo bởi ba đỉnh: A=(0,0), B=(4,0) và C=(0,4). conv{A,B,C} chính là tam giác đặc ABC. Ta kiểm tra hai điểm P=(1,2) và Q=(3,3):

  1. Khảo sát điểm P=(1,2): Thiết lập phương trình tổ hợp:

    θA(0,0)+θB(4,0)+θC(0,4)=(1,2)

    Cân bằng tọa độ từng thành phần:

    • Tọa độ thứ nhất: 4θB=1⟹θB=14.
    • Tọa độ thứ hai: 4θC=2⟹θC=12.
    • Tổng trọng số bằng 1: θA=1−θB−θC=1−14−12=14.

    Cả ba trọng số đều thỏa mãn điều kiện không âm: θA=0.25≥0, θB=0.25≥0, θC=0.5≥0. Do đó điểm P nằm trọn vẹn bên trong tam giác ABC.

  2. Khảo sát điểm Q=(3,3): Cân bằng tọa độ:

    • 4θB=3⟹θB=34=0.75.
    • 4θC=3⟹θC=34=0.75.
    • Trọng số thứ ba: θA=1−0.75−0.75=−0.5.

    Vì trọng số θA=−0.5<0, điểm Q không thể biểu diễn dưới dạng của ba đỉnh. Điểm Q nằm ngoài tam giác (dù nó vẫn là tổ hợp affine thuộc mặt phẳng chứa tam giác).

Định lý Carathéodory: Cận trên số điểm biểu diễn ​

Trong định nghĩa của , số lượng điểm k có thể lớn tùy ý. Tuy nhiên, một định lý nổi tiếng và sâu sắc của Constantin Carathéodory khẳng định rằng số lượng điểm này thực chất bị chặn bởi số chiều của không gian:

Định lý Carathéodory. Nếu một S⊆Rn, thì mọi điểm x∈convS đều có thể biểu diễn như một của không quá n+1 điểm thuộc S.

Ý nghĩa thực tiễn của định lý này là:

  • Trong mặt phẳng R2 (n=2): Dù tập S chứa một triệu điểm, bất kỳ điểm nào nằm trong của S cũng chỉ cần nhiều nhất 2+1=3 điểm của S để tạo thành một tam giác bao quanh nó.
  • Trong không gian ba chiều R3 (n=3): Mọi điểm trong đều nằm trong một tứ diện (tổ hợp của không quá 4 điểm).

Cận số n+1 là tối ưu và không thể giảm bớt: Trọng tâm của một đơn hình n chiều (chẳng hạn trọng tâm tam giác trong 2D) bắt buộc phải cần đúng n+1 đỉnh với trọng số dương θi=1n+1, không thể biểu diễn bằng bất kỳ n điểm nào.

5. Tổ hợp lồi vô hạn, tích phân và kỳ vọng ​

Khái niệm không dừng lại ở số hữu hạn các điểm mà mở rộng tự nhiên sang giải tích liên tục và lý thuyết xác suất:

  1. Chuỗi vô hạn có trọng số: Cho dãy vô hạn các điểm x1,x2,…∈C và dãy trọng số không âm θi≥0 thỏa mãn ∑i=1∞θi=1. Khi đó, nếu chuỗi hội tụ thì:
    ∑i=1∞θixi∈C
  2. Tích phân mật độ xác suất: Cho hàm mật độ xác suất p(x)≥0 xác định trên C⊆Rn thỏa mãn điều kiện chuẩn hóa ∫Cp(x)dx=1. Khi đó, nếu tích phân hội tụ tuyệt đối thì:
    ∫Cp(x)xdx∈C
  3. Kỳ vọng của ngẫu nhiên: Dạng tổng quát nhất phát biểu rằng: Nếu X là một vector ngẫu nhiên nhận giá trị trong C với xác suất 1 (P(X∈C)=1), thì kỳ vọng toán học của nó cũng thuộc C:
    E[X]∈C

Dạng phát biểu thứ ba bao hàm trọn vẹn cả trường hợp rời rạc và liên tục. Chẳng hạn, nếu biến ngẫu nhiên X chỉ nhận hai giá trị x1 và x2 với xác suất tương ứng θ và 1−θ, thì kỳ vọng E[X]=θx1+(1−θ)x2, khớp chính xác với định nghĩa đoạn thẳng ban đầu.

Như vậy, về bản chất triết học toán học, chính là khép kín đối với mọi phép tính trung bình: Dù bạn lấy trung bình các điểm trong tập theo bất kỳ quy luật phân phối xác suất nào, kết quả thu được vẫn luôn nằm trọn vẹn bên trong tập hợp đó.

Ứng dụng trong học máy hiện đại ​

  • Mô hình hỗn hợp (Mixture Models): Phân phối hỗn hợp Gaussian (GMM) biểu diễn mật độ xác suất dưới dạng của nhiều phân phối thành phần, theo công thức p(x)=∑k=1KπkN(x∣μk,Σk) với ∑kπk=1,πk≥0.
  • Lấy trung bình trọng số mô hình (Stochastic Weight Averaging - SWA & Model Soups): Trong huấn luyện mạng nơ-ron sâu, thay vì chỉ sử dụng trọng số tại bước lặp cuối cùng, người ta lấy trung bình cộng các điểm checkpoint dọc theo quỹ đạo tối ưu: wSWA=1T∑t=1Twt. Khi các trọng số bị ràng buộc trong một (chẳng hạn ∥w∥≤R), trọng số trung bình luôn đảm bảo thỏa mãn ràng buộc mà không cần phép chiếu phụ trợ.
  • Nới lỏng lồi (Convex Relaxation): Đối với các bài toán tối ưu tổ hợp có miền nghiệm rời rạc S không lồi, người ta thay thế S bằng convS. Kỹ thuật này chuyển bài toán NP-khó thành một bài toán quy hoạch lồi giải được trong thời gian đa thức.

6. Tính lồi theo trung điểm và điều kiện đóng ​

Một câu hỏi giải tích tinh tế thường được đặt ra là: Liệu ta có thể đơn giản hóa việc kiểm tra tính lồi bằng cách chỉ kiểm tra trung điểm của hai điểm bất kỳ thay vì phải kiểm tra mọi θ∈[0,1]?

Định nghĩa. C được gọi là lồi theo trung điểm (midpoint convex) nếu với mọi a,b∈C, ta luôn có:

a+b2∈C

Rõ ràng mọi đều lồi theo trung điểm (chỉ cần chọn θ=12). Chiều ngược lại có luôn đúng không?

Câu trả lời là không đúng trong trường hợp tổng quát. Phản ví dụ kinh điển là tất cả các điểm có tọa độ hữu tỉ Q2 trong mặt phẳng. Trung điểm của hai điểm hữu tỉ là một điểm hữu tỉ, do đó Q2 lồi theo trung điểm. Tuy nhiên Q2 hoàn toàn không lồi: Đoạn thẳng nối (0,0) và (1,0) đi qua điểm (12,0) có tọa độ vô tỉ, văng ra ngoài tập hợp.

Tuy nhiên, trong thực hành tối ưu hóa, hầu hết các khả thi đều là tập đóng (closed set). Khi đó ta có một định lý then chốt:

Định lý. Nếu một C⊆Rn là tập đóng và lồi theo trung điểm, thì C là một .

Ý tưởng chứng minh định lý này dựa trên phép chia đôi lặp lại: Bắt đầu từ hai đầu mút a,b, lấy trung điểm ta được điểm ứng với θ=12. Lặp lại phép lấy trung điểm giữa điểm mới với các đầu mút, ta thu được mọi điểm ứng với θ có dạng phân số nhị phân hữu hạn m2k với 0≤m≤2k. Tập các phân số nhị phân này tạo thành một tập trù mật trong đoạn [0,1]. Bất kỳ số thực θ∈[0,1] nào cũng là giới hạn của một dãy phân số nhị phân. Vì C là tập đóng, nó chứa tất cả các điểm giới hạn của dãy, do đó chứa toàn bộ đoạn thẳng θa+(1−θ)b.

Định lý này mang lại lợi thế tính toán lớn: Trong nhiều chứng minh, kiểm tra trung điểm đại số a+b2 đơn giản hơn rất nhiều so với kiểm tra θ tổng quát.

7. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Giao của hai có luôn luôn là một tập lồi không? Hợp của hai tập lồi thì sao?

Xem lời giải thích

Giao của hai (và tổng quát hơn là giao của một họ tùy ý các tập lồi, kể cả vô hạn) luôn luôn là một tập lồi. Lập luận chứng minh rất sáng rõ: Nếu x1,x2 cùng thuộc giao C1∩C2, thì chúng thuộc cả C1 và C2. Do C1 lồi, toàn bộ đoạn thẳng nối hai điểm nằm trong C1. Do C2 lồi, đoạn thẳng đó cũng nằm trong C2. Do đó đoạn thẳng nằm trong phần giao.

Ngược lại, hợp của hai nói chung không lồi. Một phản ví dụ trực quan là hợp của hai hình tròn rời nhau: Chọn một điểm thuộc hình tròn này và một điểm thuộc hình tròn kia, đoạn thẳng nối chúng bắt buộc phải băng qua khoảng trống ngăn cách ở giữa, do đó không nằm trong hợp. Hệ quả đối với bài toán tối ưu là: Thêm các ràng buộc đồng thời (phép giao) luôn bảo toàn tính lồi của , nhưng các ràng buộc dạng "hoặc điều kiện này hoặc điều kiện kia" (phép hợp) sẽ phá vỡ tính lồi.

Câu 2. Xét nhận định sau: " S={x∈R2∣x1x2≥1} là một vì đồ thị của x2≥1x1 là một đường cong lồi hướng lên trên." Nhận định này đúng hay sai?

Xem lời giải thích

Nhận định trên là sai lầm vì đã bỏ qua nhánh tọa độ âm.

Điều kiện x1x2≥1 được thỏa mãn trong hai trường hợp:

  1. Nhánh dương: Miền x1>0 và x2>0 với x2≥1x1 (góc phần tư thứ nhất).
  2. Nhánh âm: Miền x1<0 và x2<0 với x2≤1x1 (góc phần tư thứ ba).

Cả hai điểm A=(2,2) và B=(−2,−2) đều thuộc tập S (vì 2⋅2=4≥1 và (−2)(−2)=4≥1). Tuy nhiên, trung điểm của chúng là gốc tọa độ M=(0,0) cho tích 0⋅0=0<1, vi phạm điều kiện . Chỉ khi ta giới hạn bài toán trên góc phần tư dương R++2, tập hợp mới thực sự lồi. Đây là bài học sư phạm quan trọng: Cảm nhận trực quan qua hình vẽ nhánh đồ thị luôn phải đi kèm với việc rà soát miền xác định của toàn bộ các biến số.

Câu 3. của bao lồi của một S là gì? Phép lấy bao lồi có bảo toàn quan hệ bao hàm giữa hai tập hợp không?

Xem lời giải thích

Ta có:

conv(convS)=convS

Lý do là bản thân convS đã là một , và của một tập lồi chính là chính nó. Tính chất này thể hiện tính lũy đẳng (idempotence) của toán tử bao lồi.

Ngoài ra, phép lấy bảo toàn quan hệ bao hàm: Nếu A⊆B, thì mọi tổ hợp lồi của các điểm thuộc A cũng là tổ hợp lồi của các điểm thuộc B, do đó convA⊆convB. Cùng với tính chất S⊆convS, toán tử bao lồi hành xử hoàn toàn tương thích như toán tử đóng topo trong giải tích.

Câu 4. Giả sử một biến ngẫu nhiên X nhận giá trị trong đoạn [0,1]. Ta có thể kết luận gì về kỳ vọng toán học E[X]? Nếu X chỉ nhận giá trị rời rạc trong tập {0,1}, kỳ vọng E[X] có bắt buộc thuộc {0,1} không?

Xem lời giải thích

Vì đoạn [0,1] là một , theo định lý về kỳ vọng, ta luôn có E[X]∈[0,1] với bất kỳ phân phối xác suất nào.

Ngược lại, tập rời rạc {0,1} không lồi. Do đó kỳ vọng không nhất thiết phải thuộc tập này: Chẳng hạn khi tung một đồng xu cân đối với giá trị 0 (sấp) và 1 (ngửa), kỳ vọng là E[X]=0.5∉{0,1}. Kỳ vọng chỉ chắc chắn nằm trong của tập giá trị, tức là conv{0,1}=[0,1]. Đây là lý do vì sao trong thống kê học, giá trị trung bình của một mẫu rời rạc thường là một số thập phân mà không một cá thể nào trong mẫu thực tế sở hữu (chẳng hạn con số "trung bình mỗi hộ gia đình có 2.3 người con").

8. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Chứng minh hoặc bác bỏ tính lồi của các tập hợp

Trong không gian mặt phẳng R2, hãy chứng minh là lồi hoặc chỉ ra một phản ví dụ cụ thể cho các tập hợp sau:

  1. S1={x∈R2∣|x1|+|x2|≤1}
  2. S2={x∈R2∣x2≥x12}
  3. S3={x∈R2∣x2≤x12}
  4. S4={x∈R2∣max{x1,x2}≤1}
Lời giải
  1. Tập S1 là : Đây là quả cầu đóng đơn vị theo chuẩn ℓ1. Lấy hai điểm x,y∈S1 và θ∈[0,1]. Áp dụng bất đẳng thức tam giác cho từng tọa độ:

|\theta x_1 + (1 - \theta) y_1| + |\theta x_2 + (1 - \theta) y_2| &\le \theta(|x_1| + |x_2|) + (1 - \theta)(|y_1| + |y_2|) \ &\le \theta(1) + (1 - \theta)(1) = 1 \end

Dođótổhợplồithuộc$S1$.2.∗∗Tập$S2$làtậplồi∗∗:Lấy$x,y∈S2$thỏa$x2≥x12$và$y2≥y12$.Với$θ∈[0,1]$:

\theta x_2 + (1 - \theta) y_2 \ge \theta x_1^2 + (1 - \theta) y_1^2

Mặtkhác,xéthiệu:

[\theta x_1^2 + (1 - \theta) y_1^2] - (\theta x_1 + (1 - \theta) y_1)^2 = \theta(1 - \theta)(x_1 - y_1)^2 \ge 0

Vì$θ≥0,1−θ≥0$vàbìnhphươngkhôngâm,tasuyra:

\theta x_2 + (1 - \theta) y_2 \ge (\theta x_1 + (1 - \theta) y_1)^2

Chứngtỏtổhợplồithuộc$S2$.3.∗∗Tập$S3$khônglồi∗∗:Chọn$x=(−1,1)$và$y=(1,1)$.Cảhaiđiểmđềuthỏa$x2≤x12$(vì$1≤(−1)2=1$và$1≤12=1$).Trungđiểmcủachúngvới$θ=0.5$là$m=(0,1)$.Thửvàođiềukiện:$1≤02=0$,mâuthuẫn.Vậy$S3$khônglồi.4.∗∗Tập$S4$làtậplồi∗∗:Điềukiện$max{x1,x2}≤1$tươngđươngđồngthờivới$x1≤1$và$x2≤1$.Đâylàgiaocủahainửamặtphẳnglồigồmnửamặtphẳng$H1={x∣x1≤1}$vànửamặtphẳng$H2={x∣x2≤1}$.Vìgiaocủahaitậplồilàtậplồi,$S4$làtậplồi.

Bài tập 2: Tổ hợp lồi của các phân phối xác suất

Cho ba phân phối xác suất rời rạc trên ba biến cố:

p=(0.5,0.3,0.2),q=(0.1,0.1,0.8),r=(0.2,0.6,0.2)
  1. Tính phân phối u=12p+14q+14r và kiểm tra xem u có phải là một phân phối xác suất hợp lệ không.
  2. Có tồn tại bộ ba trọng số không âm α,β,γ≥0 với α+β+γ=1 sao cho tổ hợp αp+βq+γr tạo thành phân phối đều d=(13,13,13) không?
Lời giải
  1. Tính từng thành phần tọa độ của u:

u_1 &= 0.5(0.5) + 0.25(0.1) + 0.25(0.2) = 0.325 \ u_2 &= 0.5(0.3) + 0.25(0.1) + 0.25(0.6) = 0.325 \ u_3 &= 0.5(0.2) + 0.25(0.8) + 0.25(0.2) = 0.350 \end

Kiểmtra:Cácthànhphầnđềukhôngâm($ui≥0$)vàtổngbằng$0.325+0.325+0.350=1$.Dođó$u$làmộtphânphốixácsuấthợplệ.2.Đểtìm$α,β,γ$,tathiếtlậphệphươngtrìnhtuyếntính:

\begin{aligned} 0.5 \alpha + 0.1 \beta + 0.2 \gamma &= \frac{1}{3} \ 0.3 \alpha + 0.1 \beta + 0.6 \gamma &= \frac{1}{3} \ \alpha + \beta + \gamma &= 1 \end

Lấyphươngtrìnhthứnhấttrừphươngtrìnhthứhai:

(0.5 - 0.3)\alpha + (0.1 - 0.1)\beta + (0.2 - 0.6)\gamma = 0 \iff 0.2 \alpha - 0.4 \gamma = 0 \iff \alpha = 2\gamma

Thay$β=1−α−γ=1−3γ$vàophươngtrìnhthứnhất:

0.5(2\gamma) + 0.1(1 - 3\gamma) + 0.2\gamma = \frac{1}

Rútgọn:

\gamma + 0.1 - 0.3\gamma + 0.2\gamma = \frac{1}{3} \iff 0.9 \gamma = \frac{1}{3} - \frac{1}{10} = \frac{7}

Dođó:

\gamma = \frac{7}{30 \times 0.9} = \frac{7}

Suyra:

\alpha = 2\gamma = \frac{14}{27}, \quad \beta = 1 - 3\left(\frac{7}{27}\right) = 1 - \frac{21}{27} = \frac{6}

Cảbatrọngsốđềuthỏamãnđiềukiệnkhôngâm:$α=1427>0$,$β=627>0$,$γ=727>0$.Kếtluận:Phânphốiđều$d$hoàntoàncóthểbiểudiễndướidạngtổhợplồicủabaphânphốiđãcho,nghĩalà$d$nằmtrọntrongtamgiácxácsuấtsinhbởi$p,q,r$.

Bài tập 3: Chứng minh bao lồi là giao của mọi tập lồi chứa tập hợp ban đầu

Cho S⊆Rn. Gọi F={B⊆Rn∣B convex and S⊆B} là họ tất cả các chứa S. Chứng minh rằng:

convS=⋂B∈FB
Lời giải

Đặt G=⋂B∈FB. Ta cần chứng minh hai chiều bao hàm:

  1. Chứng minh G⊆convS: Theo định nghĩa, convS là một và rõ ràng chứa S (vì mọi x∈S đều là tổ hợp lồi với k=1,θ1=1). Do đó convS∈F. Vì G là giao của toàn bộ các thuộc họ F, và convS là một phần tử trong họ đó, ta suy ra ngay G⊆convS.
  2. Chứng minh convS⊆G: Lấy một bất kỳ B∈F. Theo giả thiết, S⊆B. Vì B là tập lồi, theo định lý về , B phải chứa mọi tổ hợp lồi của các điểm thuộc B, và do đó chứa mọi tổ hợp lồi của các điểm thuộc S. Điều này có nghĩa là convS⊆B. Vì khẳng định này đúng với mọi tập B∈F, ta suy ra convS⊆⋂B∈FB=G.

Từ hai chiều bao hàm, ta kết luận convS=G. Đẳng thức này cũng chứng minh trực tiếp rằng chính là nhỏ nhất chứa S.

Tóm tắt ​

Một C⊆Rn là nếu nó chứa trọn vẹn đoạn thẳng nối hai điểm bất kỳ thuộc tập hợp đó. Mọi tập affine đều là tập lồi, nhưng chiều ngược lại không đúng. Để bác bỏ tính lồi chỉ cần một phản ví dụ gồm hai điểm và một hệ số θ∈[0,1], trong khi để chứng minh đòi hỏi một lập luận tổng quát cho mọi điểm và mọi hệ số, thường sử dụng bất đẳng thức tam giác hoặc tính chất giao của các tập lồi.

là một phép bình quân gia quyền với các trọng số tạo thành một phân phối xác suất rời rạc (∑iθi=1 và θi≥0). Khái niệm này mở rộng sang các phân phối liên tục và kỳ vọng toán học: Nếu một ngẫu nhiên nhận giá trị trong một thì kỳ vọng của nó cũng nằm trong tập lồi đó.

convS là nhỏ nhất chứa S, bằng giao của tất cả các tập lồi chứa S. Theo Định lý Carathéodory, mọi điểm trong bao lồi trong không gian n chiều đều có thể biểu diễn như tổ hợp lồi của không quá n+1 điểm. Cuối cùng, một tập đóng có tính lồi theo trung điểm thì luôn luôn là một tập lồi trọn vẹn.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
  • R. Tyrrell Rockafellar, Convex Analysis, Princeton University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to