Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Nón và nón lồi

Chủ đề 6 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Các chủ đề trước đã giới thiệu cho chúng ta hai cách hạn chế tự nhiên lên tổ hợp tuyến tính tổng quát ∑i=1kθixi. Nếu ta đòi hỏi tổng các trọng số phải bằng 1 (∑i=1kθi=1), ta thu được tổ hợp affine và cấu trúc không gian affine phẳng. Nếu ta đòi hỏi thêm các trọng số không được âm (θi≥0), ta thu được và cấu trúc . Vẫn còn một khả năng tổ hợp thứ tư mang tính đối ngẫu hình học sâu sắc mà chúng ta chưa khảo sát: Giữ nguyên điều kiện hệ số không âm (θi≥0) nhưng bỏ hoàn toàn điều kiện ràng buộc tổng bằng 1.

Lựa chọn đại số dường như giản đơn này dẫn thẳng tới một đối tượng hình học nền tảng của toán học tối ưu: Khái niệm nón (cone) và nón lồi (convex cone). Nón lồi không chỉ là một dạng đặc biệt mà còn là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra lý thuyết bất đẳng thức tổng quát, nón đối ngẫu (dual cone), quy hoạch nón bậc hai (SOCP) và quy hoạch (SDP). Bài học này giúp bạn đọc nắm vững trực giác hình học của nón, phân biệt rạch ròi bốn loại tổ hợp toán học, giải quyết bài toán kiểm tra thuộc nón và nhận diện các ứng dụng hiện đại trong học máy.

1. Nón: Tập khép kín với phép phóng to không âm ​

Ta bắt đầu bằng định nghĩa hình học sơ cấp của nón trong không gian Euclid:

Định nghĩa. Một C⊆Rn được gọi là một nón (cone), hay tập thuần nhất không âm (nonnegative homogeneous set), nếu với mọi điểm x∈C và với mọi hệ số vô hướng không âm θ≥0, ta luôn có:

θx∈C

Về mặt hình học trực quan, định nghĩa trên khẳng định rằng: Cứ khi nào một điểm x thuộc nón, thì toàn bộ tia thẳng (ray) xuất phát từ gốc tọa độ O đi qua điểm x cũng phải nằm trọn vẹn bên trong nón.

Một nón khác rỗng luôn luôn chứa gốc tọa độ, vì ta luôn có thể chọn hệ số θ=0, cho ra 0⋅x=0∈C. Hình ảnh trực quan sinh động nhất trong đời sống là một chùm sáng phát ra từ một ngọn đèn pin đặt tại gốc tọa độ: Mỗi tia sáng phát đi là một tia của nón, và toàn bộ vùng không gian được chiếu sáng vô tận chính là một nón hình học.

Cần lưu ý rằng định nghĩa nón sơ cấp chưa hề đòi hỏi tính lồi. Trong thực tế hình học, có vô số nón không lồi:

  • Hợp của hai trục tọa độ vuông góc trong mặt phẳng R2: K={(x1,x2)∣x1x2=0}. Phóng to một điểm trên trục tọa độ với θ≥0 vẫn cho ra một điểm trên trục tọa độ, do đó đây là một nón. Tuy nhiên, tập này không lồi: Điểm (1,0)∈K và điểm (0,1)∈K, nhưng trung điểm (12,12) rõ ràng không nằm trên bất kỳ trục tọa độ nào.
  • Góc phần tư thứ nhất hợp với góc phần tư thứ ba: K′={x∈R2∣x1x2≥0}.

Bởi vì tính lồi là linh hồn của các bài toán giải được hiệu quả, ta dành sự quan tâm đặc biệt cho lớp đối tượng giao thoa giữa hai cấu trúc này:

Định nghĩa. Một C⊆Rn được gọi là một nón lồi (convex cone) nếu nó vừa là một nón, vừa là một . Điều này tương đương với mệnh đề: Với mọi cặp điểm x1,x2∈C và với mọi cặp hệ số không âm θ1,θ2≥0, ta luôn có:

θ1x1+θ2x2∈C

Chứng minh tính tương đương của định nghĩa ​

Ta kiểm tra tính tương đương logic giữa hai phát biểu:

  • Chiều thuận (⇒): Giả sử C khép kín với mọi tổ hợp θ1x1+θ2x2 có hệ số không âm:
    1. Chọn θ2=0, ta có θ1x1∈C với mọi θ1≥0, chứng minh C là một nón.
    2. Chọn thêm điều kiện θ1+θ2=1, ta có θ1x1+(1−θ1)x2∈C với mọi θ1∈[0,1], chứng minh C là một .
  • Chiều đảo (⇐): Giả sử C là một nón và đồng thời là một . Lấy x1,x2∈C và θ1,θ2≥0:
    • Nếu θ1=θ2=0, thì θ1x1+θ2x2=0∈C.
    • Nếu θ1+θ2>0, ta thực hiện phép biến đổi đại số tách tổng trọng số:
      θ1x1+θ2x2=(θ1+θ2)(θ1θ1+θ2x1+θ2θ1+θ2x2)
      Biểu thức trong dấu ngoặc đơn là một của x1,x2 vì các trọng số θ1θ1+θ2 và θ2θ1+θ2 đều không âm và có tổng đúng bằng 1. Vì C là , điểm trong ngoặc thuộc C. Tiếp theo, vì C là một nón và số nhân (θ1+θ2)>0 là không âm, của toàn bộ biểu thức vẫn thuộc C.

Về mặt hình học, tất cả các tổ hợp θ1x1+θ2x2 với θ1,θ2≥0 sinh bởi hai độc lập tuyến tính trong mặt phẳng tạo thành một hình quạt vô hạn (infinite wedge hay pie slice) có đỉnh đặt tại gốc tọa độ, hai mép biên là hai tia thẳng đi qua x1 và x2. Khác biệt căn bản với đoạn thẳng giới hạn của , hình quạt này trải rộng vô tận ra xa vì không có bất kỳ rào cản nào giới hạn độ lớn của các hệ số θ1,θ2.

Tổ hợp với hệ số không âm

v₁v₂

θ₁v₁ + θ₂v₂ = (2.40, 1.50) với θ₁, θ₂ ≥ 0. Không có ràng buộc θ₁ + θ₂ = 1, nên điểm có thể chạy ra xa tùy ý.

Nón là một hình quạt đỉnh tại gốc với góc mở 54°.

Gợi ý thao tác
  1. Giữ θ₂ = 0 và tăng θ₁. Điểm chạy theo tia nào?
  2. Kéo v₂ dần về phía ngược hướng với v₁. Góc mở của nón thay đổi thế nào ngay trước khi hai vector thẳng hàng?
  3. Bật v₃ và kéo nó sao cho ba vector "bao quanh" gốc. Lúc đó nón là gì?

2. Tổ hợp nón và bao nón ​

Mở rộng từ hai điểm sang một số hữu hạn các điểm, ta thiết lập định nghĩa tổ hợp nón chuẩn mực:

Định nghĩa. Cho k điểm x1,…,xk∈Rn. Một điểm y có dạng:

y=∑i=1kθixi=θ1x1+θ2x2+⋯+θkxk

với tất cả các trọng số không âm (θi≥0,∀i=1,…,k) được gọi là một tổ hợp nón (conic combination), hay tổ hợp tuyến tính không âm.

Bao nón (conic hull) của một S⊆Rn, ký hiệu là coneS, là tập hợp tất cả các tổ hợp nón của các điểm thuộc S:

coneS={∑i=1kθixi|xi∈S,θi≥0,k≥1}

Tương tự như và bao affine, một là nón lồi khi và chỉ khi nó chứa mọi tổ hợp nón của các điểm thuộc tập đó. Bao nón coneS luôn luôn là một nón lồi, và nó chính là nón lồi nhỏ nhất chứa S.

Hiện tượng nón bùng nổ: Gốc tọa độ bị bao quanh ​

Trong mặt phẳng R2, bao nón của hai độc lập tuyến tính là một hình quạt có góc mở nhỏ hơn 180∘. Khi ta thêm vào vector thứ ba, điều gì sẽ xảy ra?

Nếu các được phân bố sao cho gốc tọa độ O nằm trọn vẹn bên trong của các điểm đầu mút, thì bao nón của chúng sẽ bùng nổ thành toàn bộ không gian Rn.

Ví dụ: Bao nón của ba vector bao quanh gốc tọa độ

Trong mặt phẳng R2, xét ba :

v1=(1,0),v2=(−1,1),v3=(−1,−1)

Gốc tọa độ O=(0,0) là một của ba này:

12v1+14v2+14v3=12(1,0)+14(−1,1)+14(−1,−1)=(0,0)

với các trọng số không âm θ1=0.5, θ2=0.25, θ3=0.25 có tổng bằng 1.

Ta chứng minh rằng cone{v1,v2,v3}=R2: Lấy một tùy ý u=(a,b)∈R2.

  • Nếu b≥0: Ta có thể phân tích u theo hai v1 và v2. Phương trình αv1+βv2=(a,b) tương đương với α(1,0)+β(−1,1)=(a,b), cho nghiệm β=b≥0 và α=a+β=a+b. Nếu α≥0, ta đã có tổ hợp nón của v1,v2. Nếu α<0, ta cộng thêm một lượng dương của biểu thức triệt tiêu 2v1+v2+v3=0 để đưa tất cả các hệ số về trạng thái không âm.
  • Tổng quát hơn: Vì v2 và v3 có hướng ngược lại với v1 và trải đều hai phía trục tung, ba này tạo thành một tập sinh dương (positive spanning set) của R2. Bất kỳ vector nào trong mặt phẳng cũng biểu diễn được thành tổ hợp với các hệ số không âm θ1,θ2,θ3≥0.

Hiện tượng này hoàn toàn không xảy ra đối với : Bao lồi conv{v1,v2,v3} chỉ là một tam giác hữu hạn khép kín, trong khi bao nón cone{v1,v2,v3} mở rộng thành toàn bộ mặt phẳng vô hạn.

3. Bốn loại tổ hợp toán học đặt cạnh nhau ​

Đến đây, bức tranh tổng thể về các loại tổ hợp trong đại số tuyến tính và hình học lồi đã hoàn thành trọn vẹn. Việc đặt bốn loại tổ hợp cạnh nhau giúp người học nắm bắt cấu trúc phân loại có hệ thống:

Loại tổ hợpĐiều kiện ràng buộc trên các hệ số θiBao của hai điểm x1,x2 độc lập tuyến tínhCấu trúc hình học khép kín tương ứng
Tuyến tính (Linear)Không có ràng buộc (θi∈R)Mặt phẳng qua gốc chứa x1,x2Không gian con
AffineTổng bằng 1 (∑iθi=1)Đường thẳng đi qua x1,x2Tập affine
Nón (Conic)Không âm (θi≥0)Hình quạt vô hạn đỉnh tại gốc, mép qua x1,x2Nón lồi
Lồi (Convex)Tổng bằng 1 và không âm (∑iθi=1,θi≥0)Đoạn thẳng nối hai đầu mút [x1,x2]

Mỗi dòng dưới trong bảng mang nhiều ràng buộc đại số hơn dòng trên, ngoại trừ hai dòng giữa (Affine và Nón) không so sánh được với nhau do một bên ràng buộc tổng và một bên ràng buộc dấu.

Từ bảng phân loại chuẩn mực này, ta suy ra ngay cây quan hệ bao hàm giữa các đối tượng hình học:

  1. Mọi không gian con đều đồng thời là tập affine và là nón lồi.
  2. Mọi tập affine đều là .
  3. Mọi nón lồi đều là .
  4. Mọi chiều suy luận ngược lại đều không đúng: Một đoạn thẳng là nhưng không phải tập affine và không phải là nón; một tia xuất phát từ gốc tọa độ là nón lồi nhưng không phải tập affine; một mặt phẳng không đi qua gốc tọa độ là tập affine nhưng không phải là nón.

Khi đối diện với bất kỳ bài toán hình học hay biểu thức biến đổi nào, bạn chỉ cần đặt ra hai câu hỏi then chốt:

  • Câu hỏi 1: Các hệ số có bị cấm mang giá trị âm không?
  • Câu hỏi 2: Tổng của các hệ số có bắt buộc phải bằng 1 không?

Hai câu trả lời "Có" hoặc "Không" sẽ định danh chính xác 100% cấu trúc hình học tương ứng trong bảng trên.

4. Các nón cơ bản trong tối ưu hóa ​

Trong giải tích lồi và các thuật toán học máy, có bốn họ nón lồi đóng vai trò then chốt:

1. Góc phần tư không âm (Nonnegative Orthant) ​

Góc phần tư không âm trong không gian n chiều được định nghĩa là:

R+n={x∈Rn∣xi≥0,∀i=1,…,n}

Đây là nón lồi sơ cấp và quen thuộc nhất: Tổng của hai có các tọa độ không âm là một vector không âm, và tích của một vector không âm với một số thực θ≥0 vẫn là một vector không âm. Nón này sinh ra quan hệ thứ tự thành phần thông thường x⪯y⟺y−x∈R+n, nền tảng của quy hoạch tuyến tính (LP).

2. Nửa không gian đi qua gốc tọa độ ​

Xét nửa không gian đóng có phương trình aTx≤b với a≠0:

  • Nếu b=0, {x∣aTx≤0} là một nón lồi, vì nếu aTx≤0 thì aT(θx)=θ(aTx)≤0 với mọi θ≥0.
  • Nếu b≠0 (chẳng hạn b=1), {x∣aTx≤1} là một nhưng tuyệt đối không phải là nón: Lấy điểm x thỏa aTx=1≤1, nhân với θ=2≥0 cho ra aT(2x)=2>1, điểm mới rơi ra ngoài tập hợp.

3. Nón chuẩn và nón bậc hai (Second-Order Cone / Lorentz Cone) ​

Cho một bất kỳ ∥⋅∥ trên Rn. Nón chuẩn tương ứng trong không gian Rn+1 là :

C={(x,t)∈Rn×R∣∥x∥≤t}

Chứng minh tính lồi và tính nón của C:

  • Tính chất nón: Nếu ∥x∥≤t và θ≥0, thì ∥θx∥=θ∥x∥≤θt, do đó θ(x,t)∈C.
  • Tính lồi: Lấy (x1,t1),(x2,t2)∈C và θ∈[0,1]. Theo bất đẳng thức tam giác:
    ∥θx1+(1−θ)x2∥≤θ∥x1∥+(1−θ)∥x2∥≤θt1+(1−θ)t2
    Do đó thuộc C.

Khi chuẩn được sử dụng là ∥⋅∥2, nón chuẩn được gọi là nón bậc hai (Second-Order Cone), hay còn gọi là nón Lorentz hoặc nón kem (ice-cream cone):

Qn+1={(x,t)∈Rn×R∣∥x∥2≤t}

Trong không gian ba chiều R3, điều kiện trên viết thành x12+x22≤x3, tạo nên một chiếc nón tròn xoay có trục thẳng đứng dọc theo trục x3. Đây là đối tượng nghiên cứu của quy hoạch nón bậc hai (SOCP).

4. Nón nửa xác định dương (Positive Semidefinite Cone) ​

Trong không gian các đối xứng kích thước n×n ký hiệu là Sn, tất cả các :

S+n={X∈Sn∣X⪰0}={X∈Sn∣zTXz≥0,∀z∈Rn}

tạo thành một nón lồi có số chiều n(n+1)2. Nếu A,B∈S+n và θ1,θ2≥0, thì với mọi z∈Rn:

zT(θ1A+θ2B)z=θ1(zTAz)+θ2(zTBz)≥0

Nón này là trái tim của quy hoạch (SDP).

5. Bài toán kiểm tra một vector có thuộc một nón không? ​

Cho một họ k cột a1,…,ak∈Rm và một vector truy vấn b∈Rm. Bài toán hình học đặt ra là: Làm thế nào để kiểm tra vector b có thuộc bao nón cone{a1,…,ak} hay không?

Theo định nghĩa, b∈cone{a1,…,ak} khi và chỉ khi tồn tại các hệ số θ1,…,θk≥0 sao cho ∑i=1kθiai=b. Viết dưới dạng :

Aθ=b,θ⪰0

trong đó A=[a1 a2 … ak]∈Rm×k là ghép các cột, và θ⪰0 biểu thị θ có toàn bộ các thành phần không âm.

Đây chính là một bài toán tìm (feasibility problem) trong quy hoạch tuyến tính. Ta thấy một sự thống nhất tuyệt đẹp giữa hình học và đại số: Câu hỏi hình học " b có nằm trong hình quạt nón không?" hoàn toàn tương đương với câu hỏi đại số " Aθ=b có nghiệm không âm không?".

Ví dụ: Kiểm tra nghiệm không âm bằng phương pháp khử đại số

Trong mặt phẳng R2, cho hai a1=(2,1) và a2=(1,3). Ta kiểm tra hai vector truy vấn b=(4,7) và b′=(4,−1):

  1. Khảo sát b=(4,7): Thiết lập hệ phương trình θ1(2,1)+θ2(1,3)=(4,7):

2\theta_1 + \theta_2 &= 4 \ \theta_1 + 3\theta_2 &= 7 \end

Nhânphươngtrìnhthứhaivới2rồitrừđiphươngtrìnhthứnhất:

2(\theta_1 + 3\theta_2) - (2\theta_1 + \theta_2) = 14 - 4 \iff 5\theta_2 = 10 \iff \theta_2 = 2

Thayngượclạivàophươngtrìnhthứnhất:$2θ1+2=4⟹θ1=1$.Cảhaihệsốđềukhôngâm:Cụthểlà$θ1=1≥0$và$θ2=2≥0$.Dođó$b$thuộcbaonóncủa$a1,a2$.2.∗∗Khảosátvector$b′=(4,−1)$∗∗:Thiếtlậphệphươngtrình:

\begin{aligned} 2\theta_1 + \theta_2 &= 4 \ \theta_1 + 3\theta_2 &= -1 \end

Nhânphươngtrìnhthứhaivới2rồitrừphươngtrìnhthứnhất:

5\theta_2 = -2 - 4 = -6 \iff \theta_2 = -\frac{6}{5} = -1.2

Vì$a1$và$a2$độclậptuyếntính($det=2⋅3−1⋅1=5≠0$),hệphươngtrìnhcónghiệmduynhất.Nghiệmduynhấtnàycó$θ2=−1.2<0$,viphạmđiềukiệnkhôngâm.Dođó$b′$khôngthuộcbaonón.

Nếu một b không thuộc nón, làm sao ta có thể cung cấp một chứng chỉ toán học gọn gàng để khẳng định điều đó mà không cần giải thích dài dòng? Câu trả lời chính là một siêu phẳng phân tách đi qua gốc tọa độ ngăn cách b khỏi toàn bộ nón. Định lý đảm bảo sự tồn tại của siêu phẳng này chính là Bổ đề Farkas, nội dung mà chúng ta sẽ khám phá sâu hơn ở bài học về siêu phẳng phân tách.

6. Khái niệm nón nhọn và nón chính quy ​

Trong lý thuyết thứ tự và đối ngẫu, người ta quan tâm tới hai thuộc tính hình học quan trọng của nón:

Nón nhọn (Pointed Cone) ​

Định nghĩa. Một nón lồi K được gọi là nhọn (pointed) nếu nó không chứa bất kỳ đường thẳng đầy đủ nào đi qua gốc tọa độ. Nói theo ngôn ngữ đại số:

x∈K,−x∈K⟹x=0

nghĩa là K∩(−K)={0}.

Ví dụ minh họa:

  • Góc phần tư không âm R+n là một nón nhọn: Nếu x≥0 và −x≥0 thì bắt buộc x=0.
  • Nửa không gian qua gốc {x∈R2∣x2≥0} là một nón lồi nhưng không nhọn, vì nó chứa toàn bộ trục hoành (đường thẳng x2=0). Tại đây (1,0) và vector đối (−1,0) đều cùng thuộc .

Nón chính quy (Proper Cone) ​

Một nón lồi K⊆Rn được gọi là nón chính quy (proper cone) nếu nó thỏa mãn đồng thời bốn điều kiện:

  1. K là .
  2. K là tập đóng (closed) theo nghĩa topo.
  3. K có phần trong khác rỗng (intK≠∅, hay còn gọi là nón đặc - solid cone).
  4. K là nón nhọn (pointed).

Nón chính quy là nền tảng để thiết lập các bất đẳng thức tổng quát (generalized inequalities) trên không gian , cho phép so sánh độ lớn giữa các vector tương tự như cách ta so sánh các số thực.

7. Ứng dụng của nón trong học máy ​

Khái niệm nón xuất hiện tự nhiên trong các bài toán học máy mà ở đó dữ liệu chỉ có thể tích lũy thêm thành phần chứ không thể trừ bớt:

  1. Phân rã không âm (Nonnegative Matrix Factorization - NMF): Trong nhiều ứng dụng xử lý ảnh và khai phá văn bản, dữ liệu có bản chất không âm (độ sáng pixel ảnh, tần suất xuất hiện của từ khóa). Thuật toán NMF xấp xỉ ma trận dữ liệu X≈WH với W≥0,H≥0. Mỗi mẫu dữ liệu (cột của X) được biểu diễn như một tổ hợp nón của các đặc trưng cơ sở (các cột của W):
    xj=∑i=1rhijwi,hij≥0
    Bởi vì các trọng số hij không được âm, mô hình bị ép buộc phải học các bộ phận thành phần cục bộ mang tính trực quan (chẳng hạn mắt, mũi, miệng khi phân tích ảnh khuôn mặt). Toàn bộ không gian các mẫu biểu diễn được chính là bao nón của các thành phần cơ sở.
  2. Hàm kích hoạt ReLU trong mạng nơ-ron: Hàm kích hoạt tuyến tính chỉnh lưu ReLU(z)=max{0,z} luôn cho đầu ra thuộc góc phần tư không âm R+n. Một tầng nơ-ron tiếp theo với các trọng số kết nối không âm sẽ sinh ra các đầu ra là tổ hợp nón của các đặc trưng tầng trước.
  3. Bộ phân loại tuyến tính không có hệ số chặn: Một bộ phân loại tuyến tính không có bias term dự đoán nhãn dương khi wTx≥0. Vùng quyết định nhãn dương là một nửa không gian qua gốc, tức là một nón lồi. Do đó nếu một điểm dữ liệu x được gán nhãn dương, thì mọi điểm phóng to αx với α>0 cũng chắc chắn được gán nhãn dương.

8. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Một nón theo định nghĩa chuẩn tắc có bắt buộc phải chứa gốc tọa độ không? góc phần tư mở K={x∈R2∣x1>0,x2>0} có phải là một nón không?

Xem lời giải thích

Theo định nghĩa chuẩn tắc của giải tích lồi với hệ số θ≥0, một nón khác rỗng bắt buộc phải chứa gốc tọa độ: Lấy điểm x∈K bất kỳ và chọn θ=0, ta có 0⋅x=0∈K.

Do đó, tập góc phần tư mở K={x∈R2∣x1>0,x2>0} không phải là một nón theo định nghĩa này: Chọn điểm x=(1,1)∈K, nhưng với θ=0 ta có θx=(0,0)∉K. Cần lưu ý rằng một số tài liệu giải tích cổ điển dùng định nghĩa nón mở với θ>0. Trong chương trình StudyHub, ta tuân thủ tuyệt đối quy ước chuẩn mực θ≥0.

Câu 2. Giao của hai nón lồi có luôn luôn là một nón lồi không? Tổng Minkowski K1+K2={x+y∣x∈K1,y∈K2} của hai nón lồi thì sao?

Xem lời giải thích

Cả hai phép toán đều bảo toàn cấu trúc nón lồi:

  1. Phép giao: Nếu u,v∈K1∩K2 và θ1,θ2≥0, thì θ1u+θ2v thuộc K1 (do K1 là nón lồi) và cũng thuộc K2 (do K2 là nón lồi). Do đó tổ hợp thuộc phần giao.
  2. Tổng Minkowski: Lấy hai điểm thuộc tổng u=x1+y1 và v=x2+y2 với x1,x2∈K1 và y1,y2∈K2. Với mọi θ1,θ2≥0:
    θ1u+θ2v=(θ1x1+θ2x2)+(θ1y1+θ2y2)
    Số hạng thứ nhất thuộc K1 và số hạng thứ hai thuộc K2, do đó tổng của chúng thuộc K1+K2.

Câu 3. Cho một đường tròn không đi qua gốc tọa độ trong mặt phẳng, chẳng hạn đường tròn tâm I=(3,0) bán kính R=1. Bao nón của đường tròn này có hình dạng gì? Nếu đường tròn có tâm tại gốc tọa độ O=(0,0) thì sao?

Xem lời giải thích

Với đường tròn tâm (3,0) bán kính 1: Các tia thẳng xuất phát từ gốc tọa độ chạm vào đường tròn bị giới hạn bởi hai tiếp tuyến kẻ từ gốc. Góc nghiêng của tiếp tuyến so với trục hoành thỏa mãn sin⁡α=ROI=13⟹α≈19.47∘. Do đó bao nón là một hình quạt vô hạn đối xứng qua trục hoành với góc mở tổng cộng xấp xỉ 38.94∘.

Ngược lại, với đường tròn tâm tại gốc tọa độ (0,0) bán kính 1: Mọi hướng trong mặt phẳng đều có điểm giao cắt trên đường tròn. Do đó các tia thẳng xuất phát từ gốc tọa độ quét qua toàn bộ mọi hướng, biến bao nón thành toàn bộ mặt phẳng R2. Câu hỏi này nhấn mạnh một trực giác: Bao nón chỉ quan tâm tới các phương hướng của điểm dữ liệu chứ không phụ thuộc vào khoảng cách từ điểm tới gốc tọa độ.

Câu 4. Xét nhận định sau: "Nếu K là một nón lồi và K chứa ít nhất một đường thẳng đầy đủ đi qua gốc tọa độ, thì K bắt buộc phải là một không gian con ." Nhận định này đúng hay sai?

Xem lời giải thích

Nhận định trên là hoàn toàn sai lầm.

Phản ví dụ kinh điển là nửa mặt phẳng đóng trong R2:

K={x∈R2∣x2≥0}

này là một nón lồi và chứa trọn vẹn toàn bộ trục hoành (đường thẳng x2=0 đi qua gốc). Tuy nhiên K không phải là một không gian con , vì nó không chứa điểm đối xứng (0,−1) của điểm (0,1)∈K. Nửa mặt phẳng chính là ví dụ tiêu biểu của một nón lồi không nhọn (non-pointed cone).

9. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Nhận diện nón và nón lồi

Trong các sau đây, tập hợp nào là nón, tập hợp nào là nón lồi:

  1. K1={x∈R2∣x1≥|x2|}
  2. K2={x∈R2∣x1x2≥0}
  3. K3={x∈R2∣x1+x2≤1}
  4. K4={x∈R3∣x12+x22≤x32,x3≥0}
Lời giải
  1. Tập K1 là nón lồi:
    • Tính chất nón: Nếu x1≥|x2| và θ≥0, thì θx1≥θ|x2|=|θx2|, do đó θx∈K1.
    • Tính lồi: Điều kiện x1≥|x2| tương đương đồng thời với x1−x2≥0 và x1+x2≥0. Đây là giao của hai nửa mặt phẳng lồi đi qua gốc tọa độ, do đó K1 là nón lồi.
  2. Tập K2 là nón nhưng không lồi:
    • Tính chất nón: Nếu x1x2≥0 và θ≥0, thì (θx1)(θx2)=θ2(x1x2)≥0, do đó K2 là một nón.
    • Tính không lồi: Tập K2 là hợp của góc phần tư thứ nhất và góc phần tư thứ ba. Hai điểm A=(1,0) và B=(0,−1) đều thuộc K2, nhưng trung điểm của chúng là M=(0.5,−0.5) có tích tọa độ 0.5×(−0.5)=−0.25<0∉K2.
  3. Tập K3 không phải là nón: Điểm (1,0)∈K3 (vì 1+0=1≤1), nhưng với θ=2≥0 ta có θx=(2,0) cho tổng 2+0=2>1∉K3. Tập này là một (nửa mặt phẳng) nhưng không phải là nón.
  4. Tập K4 là nón lồi: Điều kiện x12+x22≤x32 với x3≥0 tương đương với x12+x22≤x3, nghĩa là ∥(x1,x2)∥2≤x3. Đây chính là nón bậc hai trong R3, đã được chứng minh là một nón lồi ở mục 4.

Bài tập 2: Biểu diễn vector trong nón sinh bởi ba vector trong không gian

Trong không gian ba chiều R3, cho ba :

a1=(1,0,1),a2=(0,1,1),a3=(1,1,0)
  1. b=(3,1,2) có thuộc bao nón cone{a1,a2,a3} không?
  2. b′=(2,0,0) có thuộc bao nón cone{a1,a2,a3} không?
Lời giải
  1. Khảo sát b=(3,1,2): Thiết lập hệ phương trình θ1a1+θ2a2+θ3a3=b:

\theta_1 + \theta_3 &= 3 \ \theta_2 + \theta_3 &= 1 \ \theta_1 + \theta_2 &= 2 \end

Cộngcảbaphươngtrìnhlạivớinhau:

2(\theta_1 + \theta_2 + \theta_3) = 3 + 1 + 2 = 6 \implies \theta_1 + \theta_2 + \theta_3 = 3

Từđósuyratừngẩnsố:−$θ2=3−(θ1+θ3)=3−3=0$.−$θ1=3−(θ2+θ3)=3−1=2$.−$θ3=3−(θ1+θ2)=3−2=1$.Cảbahệsốđềukhôngâm:$θ1=2≥0,θ2=0≥0,θ3=1≥0$.Dođóvector$b$thuộcbaonón.2.∗∗Khảosátvector$b′=(2,0,0)$∗∗:Thiếtlậphệphươngtrình:

\begin{aligned} \theta_1 + \theta_3 &= 2 \ \theta_2 + \theta_3 &= 0 \ \theta_1 + \theta_2 &= 0 \end

Cộngcảbaphươngtrình:

2(\theta_1 + \theta_2 + \theta_3) = 2 \implies \theta_1 + \theta_2 + \theta_3 = 1

Suyra:−$θ2=1−(θ1+θ3)=1−2=−1$.−$θ1=1−(θ2+θ3)=1−0=1$.−$θ3=1−(θ1+θ2)=1−0=1$.Vìmatrậncáccộtcóđịnhthứckháckhông,hệcónghiệmduynhất.Nghiệmnàycó$θ2=−1<0$,viphạmđiềukiệnkhôngâm.Dođóvector$b′$khôngthuộcbaonón.

Tóm tắt ​

Nón là khép kín với phép nhân với mọi số thực không âm (θx∈C,∀θ≥0). Nón lồi là nón đồng thời có tính lồi, tương đương với việc khép kín với mọi tổ hợp tuyến tính có hệ số không âm (θ1x1+θ2x2∈C,∀θ1,θ2≥0). Về mặt hình học trong mặt phẳng, bao nón của các là một hình quạt vô hạn có đỉnh tại gốc tọa độ, hoặc mở rộng thành toàn bộ không gian nếu gốc tọa độ nằm trong của các điểm.

Bốn loại tổ hợp toán học (Tuyến tính, Affine, Nón, Lồi) được phân biệt rõ ràng qua hai câu hỏi: Hệ số có bị cấm âm không, và tổng hệ số có bắt buộc bằng 1 không. Bài toán kiểm tra một có thuộc bao nón hay không tương đương với một bài toán tìm của quy hoạch tuyến tính. Các nón quan trọng như góc phần tư không âm, nón chuẩn, nón bậc hai và nón đóng vai trò nền tảng cho lý thuyết tối ưu hóa hiện đại và các thuật toán học máy.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
  • D. D. Lee, H. S. Seung, Learning the parts of objects by non-negative factorization, Nature 401 (1999), 788–791.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to