Giao diện
Chủ đề trước cho ta một "bảng" các cơ bản. Chủ đề này cho các "quy tắc" lắp ghép chúng, tương tự như quy tắc tính đạo hàm cho tổng, tích, hợp. Nhờ những quy tắc này, để kiểm tra một hàm mất mát thực tế như
Tuy nhiên, khác với đạo hàm, không phải phép toán thông thường nào cũng bảo toàn tính lồi. Phép nhân, phép chia, phép trừ, phép lấy min và phần lớn các phép hợp hàm đều có thể phá vỡ hoàn toàn tính lồi. Vì vậy, việc nắm vững các quy tắc dưới đây cũng đồng nghĩa với việc nhận diện chính xác các ranh giới toán học cần cảnh giác.
1. Hai quy tắc nền: Tổng không âm và hợp với ánh xạ affine
Tổng có trọng số không âm: Nếu các hàm
là một . Nói cách khác, các hàm lồi tạo thành một nón lồi (convex cone). Quy tắc này mở rộng tự nhiên sang tổng vô hạn và tích phân: Nếu
Điều kiện trọng số "không âm" là thật sự cần thiết: Xét hiệu
Hợp với ánh xạ affine: Nếu hàm
là bình phương hợp với một ánh xạ affine. là hàm softplus (đã biết là lồi) hợp với ánh xạ tuyến tính . là hàm log-sum-exp lồi hợp với ánh xạ affine.
Cộng các số hạng tương ứng với từng mẫu dữ liệu với trọng số
2. Max, supremum, và hàm lồi như bao trên của các hàm affine
Max theo từng điểm: Nếu các hàm
Lập luận bằng không phụ thuộc vào số lượng hàm hữu hạn hay vô hạn, vì vậy quy tắc mở rộng trực tiếp sang phép lấy supremum của một họ vô hạn: Nếu hàm
- Hàm tuyến tính từng khúc: Hàm
là . Hàm mất mát hinge trong máy hỗ trợ (SVM) là trường hợp cụ thể với hai khúc affine. - Tổng
thành phần lớn nhất của : Được định nghĩa là max của mọi tổng gồm thành phần phân biệt. Chẳng hạn với và , đây là max của hàm tuyến tính, cho kết quả . - Hàm tựa (support function): Hàm
của một tập bất kỳ . Đây là supremum của một họ hàm tuyến tính theo , do đó luôn là bất kể tập có lồi hay không. - Trị riêng lớn nhất: Đại lượng
của đối xứng . Với mỗi cố định, là hàm tuyến tính theo , do đó là . Thử nghiệm bằng số: Ta có của và của đều bằng 1, trong khi của ma trận trung bình chỉ bằng .
Mọi đều là supremum của các hàm affine: Tính chất trên gợi mở một phương pháp chứng minh tính lồi tổng quát: Biểu diễn dưới dạng supremum của một họ hàm affine. Thực tế, trừ một số trường hợp suy biến biên, mọi hàm lồi đều có thể biểu diễn theo cách này. Cụ thể, với hàm lồi
Lý do: Tại mỗi
Hàm lồi là bao trên của các tiếp tuyến
đồ thị của fcác tiếp tuyếnmax của các tiếp tuyến
Max của 3 tiếp tuyến là một hàm tuyến tính từng khúc, lồi, và nằm dưới f. Trên đoạn [−2, 2], f vượt nó nhiều nhất 1.000.
Mỗi tiếp tuyến là một cận dưới toàn cục của f, nên max của chúng cũng vậy. Khi dùng mọi tiếp tuyến, max của chúng trùng với f.
Gợi ý thao tác
- Với x², tăng k từ 2 lên 12. Sai số lớn nhất giảm theo quy luật nào khi k tăng gấp đôi?
- Với |x| + 0.3x², tiếp tuyến tại 0 lấy độ dốc nào? Vì sao điểm gãy không cản trở cách xây dựng này?
- Đây cũng là cách một số thuật toán xây mô hình xấp xỉ cho hàm lồi: mỗi lần tính gradient lại thêm một tiếp tuyến. Mô hình đó lệch về phía nào so với f?
Mô phỏng cho thấy max của
3. Hợp hàm: Khi nào lồi
Quy tắc hợp hàm là quy tắc đòi hỏi sự chặt chẽ nhất, và cũng là nơi dễ mắc sai lầm nhất nếu áp dụng cơ học. Để tìm ra quy tắc này, ta xét trường hợp một biến với
Số hạng đầu tiên luôn không âm khi
| Chiều đơn điệu của | Kết luận về | ||
|---|---|---|---|
| lồi | không giảm | lồi | lồi |
| lồi | không tăng | lõm | lồi |
| lõm | không giảm | lõm | lõm |
| lõm | không tăng | lồi | lõm |
Dòng đầu tiên là quy tắc được sử dụng thường xuyên nhất trong thực tế. Nó cho thấy ngay
Vì sao không thể bỏ điều kiện đơn điệu: Xét hàm
Đơn điệu phải hiểu cho mở rộng giá trị: Khi hàm
Quy tắc hợp hàm: dự đoán và thực tế
f(x) = h(g(x)), trong đó h lồi và không giảm, còn g lồi.
Quy tắc: h lồi, h̃ không giảm, g lồi, nên dự đoán f lồi.
Thực tế trên đoạn [−2.5, 2.5]: f lồi.
Gợi ý thao tác
- Chọn h = u² và g = x² − 1. Hàm hợp có dạng gì, và giả thiết nào của quy tắc bị vi phạm?
- Giữ h = u², đổi g thành |x|. Không quy tắc nào áp dụng, nhưng f có lồi không? Vì sao?
- Chọn h = u^(3/2) và g = x² − 1. Hàm h lồi và tăng trên miền của nó, g lồi, vậy mà f không lồi. Chuyện gì xảy ra với miền xác định của f?
- Tìm một cặp (h, g) mà quy tắc dự đoán hàm lõm.
Một lưu ý quan trọng: Xét tình huống
Hợp với hàm nhiều biến: Quy tắc mở rộng tự nhiên cho hàm hợp
4. Cực tiểu hóa theo một phần biến
Phép lấy max của các luôn bảo toàn tính lồi, trong khi phép lấy min nói chung sẽ phá vỡ nó. Tuy nhiên, tồn tại một dạng cực tiểu hóa từng phần đặc biệt vẫn giữ nguyên tính lồi:
Nếu hàm
lồi đồng thời theo cặp biến và tập là một khác rỗng, thì hàm cực tiểu hóa là một theo , với giả thiết .
Về mặt hình học, của hàm
Cần nhấn mạnh rằng điều kiện lồi "đồng thời" là then chốt. Xét hàm
Ba ví dụ ứng dụng quen thuộc:
- Khoảng cách tới một : Hàm khoảng cách
là , bởi vì khoảng cách lồi đồng thời theo và tập lồi. Đối với tập không lồi, tính chất này bị phá vỡ: Khoảng cách tới tập rời rạc bằng 1 tại , nhưng bằng 0 tại . - Phần bù Schur: Cực tiểu hóa dạng toàn phương lồi
theo biến cho biểu thức khi , do đó phần bù Schur luôn . Lập luận giải tích tối ưu này chứng minh một chiều của tiêu chuẩn phần bù Schur một cách trực tiếp mà không cần dùng đến các phép biến đổi ma trận khối phức tạp. - Hàm mất mát Huber: Cực tiểu hóa theo biến phụ
của đồng thời cho:
Đây là hàm phạt Huber nổi tiếng trong hồi quy bền vững: Phạt bình phương với sai số nhỏ và phạt tuyến tính với sai số lớn, nhờ đó các điểm dị biệt (outlier) không làm lệch nghiệm tối ưu. Ta khẳng định ngay hàm Huber lồi mà không cần khảo sát đạo hàm trên từng nhánh. Cách hiểu biến phụ
5. Phối cảnh của hàm
Với
Hai ứng dụng tiêu biểu làm nổi bật sức mạnh của phép toán phối cảnh:
- Phối cảnh của hàm toàn phương
là , dạng tổng quát hóa nhiều chiều của hàm . - Phối cảnh của hàm
là , đại lượng này được gọi là entropy tương đối (relative entropy), lồi đồng thời theo cặp biến trên miền . Lấy tổng theo từng tọa độ, độ phân kỳ Kullback–Leibler (KL divergence) giữa hai phân phối xác suất rời rạc:
là một đồng thời theo cặp
6. Những phép toán làm mất tính lồi
Bảng dưới gom những phép toán trông vô hại nhưng không giữ tính lồi, mỗi phép kèm một phản ví dụ đã kiểm tra.
| Phép toán | Phản ví dụ | Điều xảy ra |
|---|---|---|
| Hiệu | lõm | |
| Tích | tại | |
| Min theo từng điểm | bằng 1 tại | |
| Hợp hàm khi | ||
| Lồi theo từng biến riêng rẽ | trung điểm của | |
| Cực tiểu theo một biến khi không lồi đồng thời | lõm |
Dòng "lồi theo từng biến riêng rẽ" đáng để tâm nhất. Một hàm có thể lồi theo
7. Đọc một hàm mất mát từ trong ra ngoài
Ghép các quy tắc lại, ta có một quy trình kiểm tra tính lồi chỉ bằng cách đọc biểu thức. Các thư viện tối ưu như CVXPY cài đặt đúng tinh thần này dưới tên lập trình lồi có kỷ luật (disciplined convex programming): Mỗi biểu thức được phân tích thành cây, và tính lồi được suy ra từ lá lên gốc bằng các quy tắc vừa học.
Ví dụ: Đọc hàm mất mát của hồi quy logistic có điều chuẩn
Xét hàm mất mát sau, với
là hàm tuyến tính của , vì là dữ liệu cố định. - Softplus
lồi. Hợp với một hàm tuyến tính, lồi theo . - Trung bình của
với trọng số là hàm lồi. là một chuẩn nên lồi, và nhân với vẫn lồi. - Tổng của hai là hàm lồi.
Kết luận: Hàm mất mát
8. Những câu hỏi để đào sâu
Câu 1. Tổng của một và một hàm lõm có thể là gì?
Xem lời giải thích
Có thể là bất cứ thứ gì.
Câu 2.
Xem lời giải thích
Câu 3. Quy tắc cực tiểu hóa từng phần đòi
Xem lời giải thích
Không, nếu
Câu 4. Vì sao hàm mất mát hinge trung bình
Xem lời giải thích
Hinge là max của hai hàm affine theo
9. Bài tập tự luyện
Bài tập 1: Đọc tính lồi bằng quy tắc
Dùng các quy tắc của trang này để chứng minh những hàm sau lồi trên miền đã cho, ghi rõ quy tắc ở mỗi bước. (a)
Lời giải
(a)
Bài tập 2: Khoảng cách tới một đoạn
Cho
Lời giải
(a) Nếu
Bài tập 3: Huber với ngưỡng tùy ý
Với
Lời giải
Hàm
Tóm tắt
Tính lồi được giữ bởi tổng có trọng số không âm, hợp với ánh xạ affine, max và supremum theo từng điểm, cực tiểu hóa theo một phần biến của một đồng thời, và phép phối cảnh. Mọi hàm lồi là bao trên của các hàm affine nằm dưới nó, nên viết một hàm thành supremum của các hàm affine là một cách chứng minh tính lồi rất hiệu quả.
Quy tắc hợp hàm đòi độ dốc của hàm ngoài và độ cong của hàm trong phải "cùng chiều", và chiều đơn điệu phải hiểu cho mở rộng giá trị. Các quy tắc chỉ là điều kiện đủ. Hiệu, tích, min, hợp hàm thiếu đơn điệu và tính lồi theo từng biến riêng rẽ đều có thể phá tính lồi. Đọc một hàm mất mát từ trong ra ngoài bằng các quy tắc này cho phép kết luận nó lồi mà không cần tính đạo hàm.
Tài liệu tham khảo
- Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.