Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Điều kiện bậc hai và độ cong

Chủ đề 19 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Điều kiện bậc nhất so sánh hàm với các tiếp tuyến của nó, và để dùng được, ta vẫn phải xét từng cặp điểm x,y. Nếu hàm có đạo hàm bậc hai, câu chuyện gọn hơn nhiều. Tính lồi trở thành một phép kiểm tra tại từng điểm: Tại mỗi x, phải . Đây là công cụ được dùng nhiều nhất khi cần nhận diện một cụ thể.

Nhưng còn cho biết nhiều hơn một câu trả lời có hoặc không. Nó đo độ cong của hàm theo từng hướng, cho biết hàm có dạng cái bát, cái máng hay cái yên ngựa quanh mỗi điểm, và các trị riêng của nó quyết định một thuật toán như phương pháp chạy nhanh hay chậm. Lần lượt từng vai trò ấy sẽ được làm rõ dưới đây.

1. Phát biểu ​

Định lý. Giả sử f khả vi hai lần, nghĩa là domf mở và ∇2f tồn tại tại mọi điểm của nó. Khi đó f lồi khi và chỉ khi domf lồi và

∇2f(x)⪰0∀x∈domf.

Với hàm một biến, điều kiện là f″(x)≥0 trên một khoảng, tức đạo hàm f′ không giảm. Điều kiện này không mới: Nó là tính đơn điệu của ở chủ đề trước, phát biểu lại qua đạo hàm của đạo hàm. Dưới góc nhìn hình học, điều kiện ∇2f(x)⪰0 phản ánh việc đồ thị luôn có độ cong hướng lên tại x. Tương tự, f lõm khi và chỉ khi miền xác định lồi và ∇2f(x)⪯0 tại mọi điểm.

Hai cụm từ "mọi điểm" và "miền lồi" đều có ý nghĩa tiên quyết. Hàm 1/x2 có f″(x)=6/x4>0 tại mọi điểm thuộc miền xác định, nhưng miền xác định gồm hai khoảng mở rời nhau (−∞,0)∪(0,∞), không phải là một , nên không lồi. Ở chiều ngược lại, một hàm có gần như khắp nơi, chỉ cần vi phạm trên một dải hẹp, cũng đủ làm mất tính lồi toàn cục, như mô phỏng ở mục 2 sẽ làm sáng tỏ.

2. Độ cong theo một hướng ​

Đặt g(t)=f(x+tv), hàm hạn chế của f lên đường thẳng qua x theo hướng v. Áp dụng quy tắc dây chuyền hai lần:

g′(t)=∇f(x+tv)Tv,g″(t)=vT∇2f(x+tv)v.

Tại t=0, ta được g″(0)=vT∇2f(x)v. Vậy dạng toàn phương của đo độ cong của đồ thị khi đi qua x theo hướng v. Điều kiện ∇2f(x)⪰0 nói rằng không có đường thẳng nào qua x mà dọc theo nó đồ thị cong xuống.

Phân tích phổ cho thấy độ cong thay đổi thế nào khi xoay hướng. Theo định lý phổ cho đối xứng thực, ta có thể khai triển tường minh thành:

∇2f(x)=∑i=1nλiqiqiT=λ1q1q1T+λ2q2q2T+⋯+λnqnqnT

với {q1,q2,…,qn} là hệ riêng trực chuẩn ứng với các trị riêng λ1≤λ2≤⋯≤λn. Với vector hướng đơn vị ∥v∥2=1, ta biểu diễn v qua cơ sở trực chuẩn v=∑i=1n(qiTv)qi. Khi đó dạng toàn phương trở thành:

vT∇2f(x)v=∑i=1nλi(qiTv)2=λ1(q1Tv)2+⋯+λn(qnTv)2,∑i=1n(qiTv)2=(q1Tv)2+⋯+(qnTv)2=∥v∥22=1.

Độ cong theo hướng v chính là một (trung bình có trọng số) của các trị riêng với các trọng số không âm (qiTv)2≥0 có tổng bằng 1. Vì vậy, độ cong luôn nằm giữa trị riêng nhỏ nhất λ1 và trị riêng lớn nhất λn, đồng thời đạt hai giá trị biên đó đúng khi v là riêng tương ứng. khi và chỉ khi trị riêng nhỏ nhất không âm (λmin≥0), tức hướng "cong ít nhất" cũng không hề cong xuống.

Với hàm hai biến, dấu của hai trị riêng cho ta bốn hình dạng cơ bản của đồ thị quanh một điểm:

Hai trị riêngHình dạng quanh xTương thích với tính lồi
cùng dươngcái bát, cong lên theo mọi hướngcó
một dương, một bằng 0cái máng, phẳng dọc một hướngcó
một dương, một âmcái yên ngựakhông
cùng âmcái bát úpkhông

Tính lồi hỏng ở đâu: bản đồ Hessian

vùng Hessian có trị riêng âmhướng cong lênhướng có độ cong 0

Tại x = (0.30, 1.00): ∇²f(x) = [[−2.92, 0.00], [0.00, 2.00]], hai trị riêng 2.000 và −2.920.

Hessian không xác định: cong lên theo hướng (0.00, 1.00), cong xuống theo hướng (−1.00, 0.00), như một cái yên ngựa.

Trong khung nhìn có những điểm mà Hessian có trị riêng âm (vùng đỏ). Chỉ cần một điểm như vậy, hàm đã không lồi.

Gợi ý thao tác
  1. Với (x₁² − 1)² + x₂², dải đỏ nằm giữa hai đường thẳng đứng nào? Tính 12x₁² − 4 để kiểm tra.
  2. Với x₁²/x₂, kéo x đi khắp nửa mặt phẳng trên. Hướng có độ cong bằng 0 luôn chỉ về đâu so với gốc tọa độ?
  3. Với log(e^x₁ + e^x₂), hướng có độ cong bằng 0 là hướng nào? Kết quả này khớp với điều gì đã thấy ở chủ đề hàm lồi?
  4. Với x₁² + 3x₁x₂ + x₂², vì sao cả khung đều đỏ dù hai phần tử trên đường chéo của Hessian đều dương?

Mô phỏng tô đỏ những điểm mà có trị riêng âm. Với (x12−1)2+x22, Hessian là diag(12x12−4, 2), nên vùng đỏ đúng là dải |x1|<1/3≈0.577. Ngoài dải ấy hàm cong lên theo mọi hướng, vậy mà chỉ dải hẹp này thôi đã đủ làm hàm mất tính lồi. Với 0.4(x12+x22)+cos⁡(2x1), vùng đỏ gồm dải giữa |x1|<0.685 và hai mép |x1|>2.457 của khung nhìn. Hàm x12+3x1x2+x22 thì đỏ khắp khung, dù cả hai phần tử trên đường chéo của Hessian đều dương: [2332] có trị riêng 5 và −1, và theo hướng (1,−1) đồ thị cong xuống.

Hai hàm còn lại, log⁡(ex1+ex2) và x12/x2, không có điểm đỏ nào, nhưng mỗi điểm đều có một hướng với độ cong bằng 0. Ta sẽ trở lại với chúng ở mục 5.

3. Vì sao điều kiện đúng ​

Để chứng minh định lý này một cách chặt chẽ, ý tưởng trung tâm là quy bài toán nhiều biến về bài toán một biến quen thuộc thông qua kỹ thuật hạn chế lên đường thẳng. Phép chứng minh gồm hai mắt xích sau:

Một biến. Với hàm g khả vi hai lần trên một khoảng, g″≥0 tương đương với g′ không giảm. Mà g′ không giảm thì g lồi: Lập luận trong bài tập về hàm softplus ở chủ đề trước áp dụng nguyên vẹn, vì nó chỉ dùng tính đơn điệu của đạo hàm để suy ra điều kiện bậc nhất. Ngược lại, g lồi thì g′ không giảm theo tính đơn điệu của , nên g″≥0.

Nhiều biến. f lồi khi và chỉ khi mọi hàm hạn chế g(t)=f(x+tv) lồi. Theo trường hợp một biến, điều này tương đương với g″(t)=vT∇2f(x+tv)v≥0 với mọi x, mọi v và mọi t hợp lệ. Vì mỗi điểm z của miền xác định đều có dạng x+tv với x=z và t=0, điều kiện đó chính là vT∇2f(z)v≥0 với mọi z và mọi v, tức ∇2f(z)⪰0 tại mọi điểm.

4. Hàm bậc hai và bình phương tối thiểu ​

Với hàm bậc hai tổng quát f(x)=12xTPx+qTx+r, trong đó P đối xứng, bằng P tại mọi điểm. Do đó f lồi khi và chỉ khi P⪰0, và lồi nghiêm ngặt khi và chỉ khi P≻0. Với hàm bậc hai, điều kiện bậc hai chính xác theo cả hai chiều, kể cả ở phần "nghiêm ngặt".

Hàm mất mát là trường hợp then chốt trong học máy. Khai triển

∥Aw−b∥22=wTATAw−2bTAw+bTb,

ta thấy bằng 2ATA. này luôn vì vTATAv=∥Av∥22≥0, nên luôn là bài toán lồi. Nó lồi nghiêm ngặt khi và chỉ khi Av≠0 với mọi v≠0, tức các cột của A độc lập tuyến tính. Khi hai đặc trưng tỉ lệ với nhau, điều này không còn đúng, và hệ quả nhìn thấy được ngay trên nghiệm.

Ví dụ: Hai đặc trưng cộng tuyến và tác dụng của điều chuẩn ridge

Lấy A=[122436], trong đó cột thứ hai gấp đôi cột thứ nhất, và b=(1,2,2). Ta có ATA=[14282856] với trị riêng 70 và 0. Hướng có độ cong bằng 0 là (2,−1), vì A(2,−1)=0: Tăng w1 thêm 2 và giảm w2 đi 1 không làm thay đổi dự đoán.

Hàm mất mát là một cái máng. Phương trình chuẩn ATAw=ATb=(11,22) rút về một phương trình w1+2w2=11/14, nên mọi điểm trên đường thẳng này đều tối ưu, với cùng tổng bình phương sai số 5/14≈0.357. Bộ giải trả về điểm nào là tùy cách nó được cài đặt, và các hệ số riêng lẻ không còn ý nghĩa diễn giải.

Thêm điều chuẩn ridge λ∥w∥22, trở thành 2(ATA+λI) với trị riêng 2(70+λ) và 2λ, cả hai dương. Cái máng được uốn thành cái bát, và nghiệm trở nên duy nhất. Với λ=1, giải (ATA+I)w=ATb được w=(11/71, 22/71)≈(0.155, 0.310). Khi λ giảm dần về 0, nghiệm ridge tiến về (11/70, 22/70), điểm có chuẩn nhỏ nhất trên đường nghiệm.

5. Cái máng xoay quanh gốc: Hàm x2/y ​

Hàm hai biến f(x,y)=x2/y trên nửa mặt phẳng y>0 đem lại một hình ảnh trực quan rõ nét về suy biến. Tính trực tiếp,

∇2f(x,y)=2y3[y2−xy−xyx2]=2y3[y−x][y−x]T⪰0.

có dạng cuuT với c>0, nên , và . Nhưng hạng của nó bằng 1, và hướng có độ cong bằng 0 là (x,y), vuông góc với u=(y,−x). Hướng (x,y) chính là hướng của tia đi từ gốc qua điểm đang xét. Lý do hình học: Ta có f(tx,ty)=tf(x,y) với mọi t>0, nên dọc mỗi tia xuất phát từ gốc tọa độ, tăng tuyến tính và hoàn toàn không cong. Đồ thị là một cái máng mà đáy máng xoay quanh gốc tọa độ. Trong mô phỏng ở mục 2, chọn hàm x12/x2 và kéo điểm x đi khắp nửa mặt phẳng trên để thấy vạch nét đứt luôn chỉ thẳng về gốc.

Hàm log⁡(ex1+ex2) có hiện tượng tương tự theo một kiểu khác. Dọc hướng (1,1), ta có f(x+t(1,1))=f(x)+t, tăng tuyến tính, nên luôn suy biến theo hướng đó. Trong bài tiếp theo, ta sẽ tính ma trận Hessian của hàm log-sum-exp ở dạng tổng quát.

6. Lồi nghiêm ngặt và những điều điều kiện bậc hai không nói ​

Nếu ∇2f(x)≻0 tại mọi x thì f lồi nghiêm ngặt. Chiều ngược lại không đúng: Chẳng hạn hàm f(x)=x4 lồi nghiêm ngặt nhưng f″(0)=0. Lồi nghiêm ngặt chỉ cấm đồ thị chứa một đoạn thẳng, và một hàm có đạo hàm bậc hai bằng 0 tại vài điểm rời rạc vẫn không chứa đoạn thẳng nào. Với x4, dây cung nối (−1,1) và (1,1) nằm ở độ cao 1, còn đồ thị tại 0 có độ cao 0.

Điều kiện bậc hai cũng im lặng trước những hàm không khả vi hai lần, và trong học máy có không ít hàm như vậy: |x|, max{x1,…,xn}, ReLU, chuẩn ℓ1. Với chúng, ta phải dùng định nghĩa, điều kiện bậc nhất với dưới đạo hàm, hoặc các phép toán giữ tính lồi ở chủ đề sau. Ngay cả ∥x∥2 cũng không khả vi tại gốc, dù ở mọi điểm khác của nó , như Bài tập 3 sẽ cho thấy.

7. Độ cong cho biết bài toán dễ hay khó ​

Ngoài câu trả lời định tính lồi hay không, còn cung cấp thông tin định lượng thực tế: Độ lớn của các trị riêng trực tiếp quyết định tốc độ hội tụ của thuật toán tối ưu.

Lồi mạnh: Ta định nghĩa f là lồi mạnh (strongly convex) trên tập S nếu tồn tại hằng số m>0 sao cho:

∇2f(x)⪰mI∀x∈S.

Khai triển Taylor bậc hai kèm phần dư khi đó đem lại một hàm chặn dưới tốt hơn hẳn tiếp diện bậc nhất:

f(y)≥f(x)+∇f(x)T(y−x)+m2∥y−x∥22.

Về mặt hình học, tựa phía dưới đồ thị tại mỗi điểm x giờ đây là cả một mặt paraboloit tròn xoay có độ cong m, tạo nên một chặn dưới chặt chẽ hơn nhiều so với mặt phẳng tiếp xúc. Cực tiểu hóa vế phải theo biến y bằng cách giải điều kiện đạo hàm triệt tiêu ∇f(x)+m(y−x)=0, tức chọn y=x−1m∇f(x), ta thu được bất đẳng thức chặn dưới giá trị tối ưu toàn cục p⋆:

p⋆≥f(x)−12m∥∇f(x)∥22.

Ý nghĩa thực tiễn của chặn dưới này rất sâu sắc: Với mạnh, bất cứ khi nào độ lớn ∥∇f(x)∥2 nhỏ, điểm hiện tại chắc chắn đã nằm rất gần nghiệm tối ưu toàn cục p⋆. Đây là bảo chứng mà tính lồi thông thường không thể mang lại. Chẳng hạn hàm ex lồi nghiêm ngặt nhưng không lồi mạnh trên toàn bộ R, bởi vì f″(x)=ex→0 khi x→−∞. Tại miền đó gradient tiến sát về 0 nhưng bài toán thậm chí không hề đạt cực tiểu tại bất kỳ điểm hữu hạn nào.

Số điều kiện: Khi vừa lồi mạnh vừa có bị chặn trên bởi M (tức ∇2f(x)⪯MI với M≥m>0), tỉ số κ=M/m≥1 được gọi là số điều kiện (condition number). Đại lượng này đo lường độ lệch cong giữa các hướng, hay mức độ dẹt của các tập mức: Đường mức của một hàm bậc hai với hai trị riêng m và M là hình ellipse có tỉ số độ dài hai bán trục chính là κ.

Xét mô hình tối ưu hàm bậc hai f(x)=12(x12+γx22) bằng phương pháp descent với bước nhảy tìm kiếm chính xác theo tia (exact line search). Khi xuất phát từ (γ,1), sau mỗi bước lặp k, khoảng cách sai số giá trị mục tiêu f(x(k))−p⋆ bị thu hẹp đúng một hệ số không đổi ((γ−1)/(γ+1))2:

γHệ số giảm sai số mỗi bướcSố bước để sai số giảm 106 lần
100.66935
1000.961346

Cùng là một cái bát, nhưng bát càng dẹt thì phương pháp càng đi zíc zắc và càng chậm. Đây là một trong những lý do người ta chuẩn hóa thang đo của các đặc trưng trước khi huấn luyện mô hình: Đưa các đặc trưng về cùng thang đo thường làm của hàm mất mát bớt lệch giữa các hướng.

8. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Hàm f(x)=12xTPx với P=[1221] có mọi phần tử của P đều dương. Hàm có lồi không?

Xem lời giải thích

Không. Phần tử dương không có nghĩa là . P có trị riêng 3 và −1, với riêng ứng với −1 là (1,−1)/2. Theo hướng đó, vTPv=12(1−4+1)=−1<0, đồ thị cong xuống, và f là một cái yên ngựa. Điều ngược lại cũng đúng: [2−1−12] có phần tử âm nhưng xác định dương.

Câu 2. Xét quy trình kiểm tra đối xứng 2×2 dạng [abbc] bằng hai điều kiện a≥0 và ac−b2≥0, rồi kết luận . Cách kiểm tra này tồn tại lỗ hổng nào?

Xem lời giải thích

Lỗ hổng xuất hiện khi a=0. Xét [000−1], ma trận này thỏa mãn a=0≥0 và ac−b2=0≥0, nhưng với v=(0,1) thì vTXv=−1<0. Đối với ma trận đối xứng cỡ 2×2, điều kiện cần và đủ để là cả ba bất đẳng thức a≥0, c≥0 và ac−b2≥0. Khi chỉ cần ma trận xác định dương (X≻0) thì hai điều kiện a>0 và ac−b2>0 là đủ, bởi vì khi đó c>b2/a≥0 là hệ quả tất yếu. Sự khác biệt giữa "nửa xác định" và "xác định" ở đây là một cái bẫy kinh điển mà người học rất dễ mắc phải.

Câu 3. Hàm ex lồi nghiêm ngặt trên R. Nó có lồi mạnh không, và câu trả lời liên quan gì tới chuyện phương pháp có thể "dừng" ở đâu?

Xem lời giải thích

Không lồi mạnh, vì không có m>0 nào để ex≥m với mọi x. Cận p⋆≥f(x)−∥∇f(x)∥2/(2m) vì thế không áp dụng được. Với ex, tại x=−10 đạo hàm chỉ khoảng 4.5×10−5, nhỏ đến mức một tiêu chí dừng kiểu " đủ nhỏ" sẽ cho dừng, dù bài toán không có nghiệm và hàm vẫn còn giảm được nữa. Lồi mạnh là điều kiện bảo đảm rằng gradient nhỏ thật sự có nghĩa là gần tối ưu.

Câu 4. Trong ví dụ hai đặc trưng cộng tuyến ở mục 4, nếu chỉ cần dự đoán tốt trên dữ liệu đã có, việc nghiệm không duy nhất có gây hại gì không? Còn khi cần đọc ý nghĩa của từng hệ số thì sao?

Xem lời giải thích

Về dự đoán thì không hại: Mọi nghiệm trên đường w1+2w2=11/14 cho cùng dự đoán Aw=1114(1,2,3), nên cùng sai số. Nhưng khi đọc hệ số thì có vấn đề lớn. Nghiệm (11/14, 0) nói chỉ đặc trưng thứ nhất quan trọng, nghiệm (0, 11/28) nói chỉ đặc trưng thứ hai quan trọng, và cả hai đều tối ưu như nhau. Một thay đổi nhỏ trong dữ liệu có thể đẩy bộ giải từ nghiệm này sang nghiệm kia. suy biến báo trước điều đó, và điều chuẩn ridge là một cách chọn ra một nghiệm ổn định.

9. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Kiểm tra bằng Hessian

Hàm f(x,y)=x2−2xy+4y2+ex có lồi trên R2 không? Có lồi nghiêm ngặt không?

Lời giải

∇2f=[2+ex−2−28]. Phần tử đầu dương, và định thức bằng 8(2+ex)−4=12+8ex>0. Hai điều kiện a>0 và định thức dương cho xác định dương tại mọi điểm, nên f lồi nghiêm ngặt.

Bài tập 2: Một hàm không lồi với hai cực tiểu toàn cục

Cho f(x,y)=x4+y4−4xy. (a) Tính và tìm tập điểm mà Hessian . Tập đó có lồi không? (b) Tìm mọi điểm dừng và phân loại chúng. (c) Chỉ ra trực tiếp một dây cung vi phạm định nghĩa .

Lời giải

(a) ∇2f=[12x2−4−412y2]. Hai phần tử đường chéo luôn không âm, nên khi và chỉ khi 144x2y2≥16, tức |xy|≥1/3. Tập này gồm bốn miền nằm ngoài các nhánh hyperbol xy=±1/3, không lồi, và không chứa gốc tọa độ. Vậy f không lồi.

(b) ∇f=(4x3−4y, 4y3−4x)=0 cho y=x3 và x=y3=x9, nên x∈{0,1,−1}. Ba điểm dừng là (0,0), (1,1) và (−1,−1). Tại gốc, [0−4−40] có trị riêng ±4, đó là điểm yên ngựa. Tại (±1,±1), Hessian [12−4−412] có trị riêng 8 và 16, đó là cực tiểu cục bộ với f=−2. Vì f→∞ khi ∥(x,y)∥→∞, cực tiểu toàn cục tồn tại và phải là một điểm dừng, nên cả hai điểm (1,1) và (−1,−1) đều là cực tiểu toàn cục.

(c) Trung điểm của hai cực tiểu là gốc tọa độ, với f(0,0)=0, trong khi trung bình của hai giá trị là −2. Đồ thị tại trung điểm nằm trên dây cung, trái với định nghĩa. Một không thể có hai cực tiểu toàn cục tách rời với một "bướu" ở giữa, vì tập các cực tiểu của hàm lồi là một .

Bài tập 3: Hessian của chuẩn Euclid

Cho f(x)=∥x∥2 trên Rn. (a) Với x≠0, chứng minh ∇f(x)=x/∥x∥2 và ∇2f(x)=(I−uuT)/∥x∥2 với u=x/∥x∥2. (b) Tìm các trị riêng của và hướng có độ cong bằng 0. Giải thích hướng đó bằng hình học. (c) Vì sao điều kiện bậc hai không đủ để kết luận f lồi trên Rn, và ta kết luận bằng cách nào?

Lời giải

(a) ∂∥x∥2/∂xi=xi/∥x∥2. Đạo hàm tiếp theo xj cho δij/∥x∥2−xixj/∥x∥23, tức ∇2f(x)=(I−xxT/∥x∥22)/∥x∥2. (b) I−uuT là phép chiếu lên siêu phẳng vuông góc với u, có trị riêng 1 (bội n−1) và 0 (theo hướng u). Vậy có trị riêng 1/∥x∥2 bội n−1 và trị riêng 0 theo hướng x. Lý do tương tự hàm x2/y: Ta có f(tx)=tf(x) với t>0, nên dọc theo tia từ gốc tọa độ qua điểm x, hàm chuẩn tăng tuyến tính và hoàn toàn không cong. Đồ thị của ∥x∥2 là một mặt nón tròn xoay. (c) Gốc tọa độ thuộc miền xác định nhưng f không khả vi tại đó, nên định lý không áp dụng trên toàn Rn. Ta kết luận bằng định nghĩa: Bất đẳng thức tam giác và tính thuần nhất cho

∥θx+(1−θ)y∥2≤θ∥x∥2+(1−θ)∥y∥2,

như đã thực hiện ở chủ đề về chuẩn.

Tóm tắt ​

Hàm khả vi hai lần trên miền lồi là lồi khi và chỉ khi tại mọi điểm. Dạng toàn phương vT∇2f(x)v là độ cong của đồ thị khi đi qua x theo hướng v, và nó là trung bình có trọng số của các trị riêng. Dấu các trị riêng cho biết quanh x đồ thị là cái bát, cái máng, cái yên ngựa hay cái bát úp, và chỉ cần một vùng nhỏ có trị riêng âm là hàm mất tính lồi.

luôn lồi vì 2ATA⪰0, nhưng chỉ lồi nghiêm ngặt khi các cột của A độc lập. Đặc trưng cộng tuyến tạo ra cái máng và vô số nghiệm, còn điều chuẩn ridge uốn nó thành cái bát. Hessian xác định dương suy ra lồi nghiêm ngặt nhưng không ngược lại, như x4 cho thấy. Cuối cùng, lồi mạnh và số điều kiện M/m cho biết nhỏ có nghĩa là gần tối ưu hay không, và phương pháp gradient chạy nhanh hay chậm.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to