Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra

Chủ đề 1 / 25
  1. 1. Bài toán tối ưu và những gì cần viết ra
  2. 2. Bình phương tối thiểu và quy hoạch tuyến tính
  3. 3. Đường thẳng, đoạn thẳng và tập affine
  4. 4. Chiều affine và nội tương đối
  5. 5. Tập lồi, tổ hợp lồi và bao lồi
  6. 6. Nón và nón lồi
  7. 7. Siêu phẳng và nửa không gian
  8. 8. Quả cầu và ellipsoid
  9. 9. Quả cầu chuẩn và nón chuẩn
  10. 10. Đa diện và đơn hình
  11. 11. Nón các ma trận nửa xác định dương
  12. 12. Các phép toán giữ tính lồi của tập
  13. 13. Phép phối cảnh và hàm phân tuyến tính
  14. 14. Nón chính quy và bất đẳng thức tổng quát
  15. 15. Siêu phẳng phân tách và siêu phẳng tựa
  16. 16. Nón đối ngẫu và lựa chọn Pareto
  17. 17. Hàm lồi và bất đẳng thức dây cung
  18. 18. Điều kiện bậc nhất: Tiếp tuyến nằm dưới đồ thị
  19. 19. Điều kiện bậc hai và độ cong
  20. 20. Những hàm lồi thường gặp
  21. 21. Epigraph, tập mức dưới và bất đẳng thức Jensen
  22. 22. Các phép toán giữ tính lồi của hàm
  23. 23. Cực tiểu cục bộ và cực tiểu toàn cục
  24. 24. Điều kiện tối ưu bậc nhất trên miền lồi
  25. 25. Nhận diện tính lồi trong mô hình học máy

Mỗi ngày, chúng ta đưa ra hàng chục quyết định với mong muốn đạt được kết quả "tốt nhất có thể": Lựa chọn cung đường di chuyển để giảm thiểu thời gian tắc đường, phân bổ ngân sách và thời gian ôn luyện giữa các môn thi, hoặc xác định bộ trọng số tối ưu cho một mạng nơ-ron sâu trong trí tuệ nhân tạo. Tối ưu hóa toán học bắt đầu bằng một nhiệm vụ tưởng chừng hiển nhiên nhưng đòi hỏi sự chuẩn xác khắt khe: Đặc tả hình thức bài toán.

Phần lớn thất bại khi giải quyết các bài toán tối ưu trong thực tế không xuất phát từ sự hạn chế của thuật toán tính toán, mà bắt nguồn từ việc mô hình toán học được thiết lập chưa phản ánh đúng bản chất câu hỏi cần giải quyết.

Bài giảng này trang bị ngôn ngữ nền tảng của lý thuyết tối ưu hóa: Phân biệt rạch ròi giữa biến quyết định, hàm mục tiêu và các ràng buộc. Đồng thời, chúng ta sẽ làm sáng tỏ sự khác biệt bản chất giữa giá trị tối ưu và nghiệm tối ưu, khảo sát các tình huống bài toán bất khả thi hoặc không bị chặn, và phân tích ranh giới cốt lõi giữa cực tiểu cục bộ (local minimum) với cực tiểu toàn cục (global minimum).


1. Bài toán Người cứu hộ ​

Một người cứu hộ đang đứng trên bãi cát, cách bờ biển 40 m, thì phát hiện một người bơi bị chuột rút đang gặp nạn ngoài khơi. Người bị nạn ở vị trí cách bờ biển 30 m và lệch 60 m dọc theo bờ so với vị trí của người cứu hộ. Trên cát, người cứu hộ có thể chạy với vận tốc 5 m/s, nhưng khi xuống nước chỉ có thể bơi với vận tốc 1.5 m/s.

Câu hỏi đặt ra là: Người cứu hộ nên chạy tới vị trí nào trên đường bờ biển rồi mới lao xuống nước để tiếp cận người bị nạn trong thời gian ngắn nhất?

Phân tích hai trực giác ban đầu ​

Khi đối diện với bài toán này, trực giác thường đưa ra hai phương án đối lập, và cả hai đều chưa phải là phương án tối ưu:

  1. Phương án đường thẳng ngắn nhất: Chạy và bơi thẳng một mạch từ vị trí đứng đến chỗ người bị nạn (AB). Quãng đường này ngắn nhất về mặt hình học (602+702≈92.2 m), nhưng người cứu hộ phải bơi tới gần 39.5 m dưới nước. Vì tốc độ bơi rất chậm (1.5 m/s), riêng quãng bơi đã tốn tới 26.3 s, đưa tổng thời gian lên khoảng 36.88 s.
  2. Phương án giảm thiểu quãng bơi: Chạy dọc bờ cát đến đúng vị trí đối diện người bị nạn rồi mới bơi vuông góc ra khơi để quãng đường bơi ngắn nhất có thể (30 m). Lộ trình này tốn khoảng 34.42 s, nhanh hơn đường thẳng, nhưng vẫn chưa phải là lộ trình nhanh nhất.

Phương án tối ưu thực sự đạt được tại điểm cân bằng hài hòa giữa hai xu hướng hình học trên. Để tìm ra nó, ta cần chuyển hóa bài toán thực tế thành ngôn ngữ toán học.

Thiết lập mô hình toán học ​

Chọn hệ trục tọa độ với trục hoành Ox trùng với đường bờ biển (ranh giới giữa cát và nước), chiều dương hướng từ trái sang phải, đơn vị đo là mét.

  • Vị trí người cứu hộ: Điểm A(0,40) trên bãi cát (y≥0).
  • Vị trí người bị nạn: Điểm B(60,−30) dưới nước (y<0).
  • Vị trí tiếp nước: Điểm rẽ P(x,0) trên đường bờ biển với hoành độ 0≤x≤60.
Người cứu hộ chạy từ A tới điểm tiếp nước P rồi bơi tới B. Hai góc tại P được đo với pháp tuyến của bờ biển.

Hình 1.1: Lộ trình của người cứu hộ. Đoạn AP là quãng đường chạy trên cát, còn đoạn PB là quãng đường bơi dưới nước. Các góc θ1 và θ2 được đo với pháp tuyến, tức đường thẳng vuông góc với bờ biển tại điểm tiếp nước.

Điểm P trong hình minh họa một vị trí tiếp nước khả thi. Để tìm lộ trình nhanh nhất, ta sẽ chọn vị trí này sao cho tổng thời gian chạy và bơi nhỏ nhất.

Giả sử trong mỗi môi trường, người cứu hộ chuyển động theo đường thẳng với vận tốc không đổi. Khi đó, toàn bộ lộ trình được xác định duy nhất bởi hoành độ x của vị trí tiếp nước P(x,0).

Tổng thời gian di chuyển là một theo biến x:

T(x)=402+x25+302+(60−x)21.5,0≤x≤60.

Trong đó:

  • Số hạng thứ nhất 402+x25=|AP|v1 là thời gian chạy trên cát từ A tới P.
  • Số hạng thứ hai 302+(60−x)21.5=|PB|v2 là thời gian bơi dưới nước từ P tới B.

Khi x tăng lên, quãng đường chạy trên cát dài thêm nhưng quãng đường bơi dưới nước ngắn lại. Hai số hạng tạo ra một lực giằng co đối nghịch theo biến x, và nghiệm tối ưu chính là điểm cân bằng lý tưởng của cuộc giằng co này.

Giải bài toán trên, ta thu được nghiệm tối ưu:

x⋆≈52.6 m,T(x⋆)≈33.82 s.

Tại nghiệm này, người cứu hộ chạy khoảng 66.1 m trên cát (mất 13.22 s), sau đó bơi khoảng 30.9 m dưới nước (mất 20.60 s). So với phương án đi theo đường thẳng (36.88 s), người cứu hộ tới nơi sớm hơn khoảng 3.06 s, rút ngắn hơn 8% thời gian cứu nạn.

Lưu ý: Những giả thiết vừa đặt ra là của người lập mô hình toán học nhằm phản ánh các yếu tố trọng yếu nhất. Trong thực tế, bãi biển có thể có sóng ngầm, dòng chảy siết hoặc vùng nước nông có thể lội nhanh hơn bơi. Mỗi chi tiết thực tế được bổ sung sẽ điều chỉnh hàm mục tiêu T(x) và dịch chuyển nghiệm tối ưu tương ứng.

Chạy bao xa rồi mới bơi?

Kéo điểm P dọc mép nước. Đồ thị bên dưới cho biết tổng thời gian T(x) ứng với mỗi điểm xuống nước.

0204060cát, v₁ = 5.0 m/snước, v₂ = 1.5 m/sθ₁θ₂ABP

đường đang chọnđoạn thẳng ABgóc với pháp tuyến

0204060T(x), giâyx, vị trí xuống nước (m)

Xuống nước tại x = 20.0 m. Chạy 44.7 m mất 8.94 s, bơi 50.0 m mất 33.33 s, tổng cộng T = 42.28 s.

Góc θ₁ ≈ 26.6°, θ₂ ≈ 53.1°. Hai tỉ số sin θ₁ / v₁ = 0.0894 và sin θ₂ / v₂ = 0.5333.

Tỉ số thứ nhất nhỏ hơn, nên T′(x) < 0. Dời P sang phải thì quãng chạy dài thêm, nhưng thời gian bơi giảm nhiều hơn thời gian chạy tăng.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo P từ trái sang phải và nhìn chấm tím trên đồ thị. T giảm rồi tăng: chỗ đổi chiều nằm ở đâu, và lúc đó hai tỉ số trong khung kết quả ra sao?
  2. Bấm "Đi theo đoạn thẳng AB" rồi "Bơi ít nhất". Phương án nào nhanh hơn, và cả hai còn chậm hơn điểm nhanh nhất bao nhiêu giây?
  3. Đặt hai vận tốc bằng nhau. Điểm nhanh nhất rơi vào đâu? Giải thích mà không cần tính.
  4. Cho bơi nhanh hơn chạy, chẳng hạn v₁ = 1.5 và v₂ = 5. Đường nhanh nhất bây giờ bẻ góc theo chiều nào?
  5. Đổi vận tốc vài lần, mỗi lần bấm "Tới điểm nhanh nhất". Hai tỉ số sin θ / v có còn bằng nhau không?

Tính tối ưu tuyệt đối của lộ trình hai đoạn thẳng ​

Tại đây xuất hiện một câu hỏi sâu sắc về bản chất tối ưu: Con số 33.82 s là tốt nhất trong họ các lộ trình gồm hai đoạn thẳng gấp khúc. Liệu một lộ trình uốn lượn đường cong mềm mại nào đó có thể giúp người cứu hộ tới nơi sớm hơn không?

Câu trả lời là không thể, và lập luận toán học hoàn toàn sáng rõ:

  • Giả sử người cứu hộ chọn một quỹ đạo tùy ý từ A tới B. Gọi P là điểm cuối cùng mà quỹ đạo đó tiếp xúc với đường bờ biển trước khi xuống nước hẳn.
  • Từ P tới B, toàn bộ chuyển động diễn ra dưới nước với vận tốc không vượt quá 1.5 m/s. Quãng đường ngắn nhất giữa hai điểm trong không gian Euclid là đoạn thẳng, do đó thời gian bơi luôn tốn ít nhất |PB|/1.5 giây.
  • Trước khi tới P, vận tốc di chuyển ở bất kỳ đâu cũng không vượt quá vận tốc tối đa trên cát (5 m/s). Do đó thời gian di chuyển từ A tới P luôn tốn ít nhất |AP|/5 giây.
  • Cộng hai vế lại, tổng thời gian của bất kỳ lộ trình nào cũng bị chặn dưới bởi T(xP), trong đó xP là hoành độ của điểm tiếp bờ P. Vì T(xP)≥T(x⋆)≈33.82 s với mọi xP∈[0,60], nên không một đường cong nào có thể nhanh hơn lộ trình hai đoạn thẳng A→P⋆→B.

Nguyên lý phương pháp luận tối ưu

Một phương án chỉ được khẳng định chắc chắn là tối ưu toàn cục khi ta chứng minh được một ngưỡng chặn lý thuyết đúng cho toàn bộ mọi phương án khả thi, và phương án được chọn đã chạm tới đúng ngưỡng chặn lý thuyết đó.

Mối liên hệ tự nhiên với Định luật khúc xạ Snell ​

Đạo hàm bậc nhất của hàm thời gian T(x) theo x là:

T′(x)=x5402+x2−60−x1.5302+(60−x)2.

Quan sát các tam giác vuông trong Hình 1.1:

  • Gọi θ1 là góc giữa đoạn chạy AP và pháp tuyến của bờ biển: sin⁡θ1=x402+x2.
  • Gọi θ2 là góc giữa đoạn bơi PB và pháp tuyến của bờ biển: sin⁡θ2=60−x302+(60−x)2.

Khi triệt tiêu đạo hàm T′(x)=0, ta thu được một phương trình đẹp đẽ:

sin⁡θ15=sin⁡θ21.5⟺sin⁡θ1v1=sin⁡θ2v2.

Biểu thức này chính là dạng toán học kinh điển của Định luật khúc xạ Snell trong quang học. Trong hiện tượng khúc xạ ánh sáng, tia sáng truyền giữa hai môi trường trong suốt với vận tốc truyền sóng khác nhau. Theo Nguyên lý thời gian cực tiểu của Fermat, tia sáng luôn tự động chọn đường đi sao cho thời gian truyền là nhỏ nhất. Tỉ số vận tốc chạy và bơi 5/1.5 trong bài toán cứu hộ đóng vai trò hoàn toàn tương tự tỉ số vận tốc ánh sáng giữa hai môi trường.

Tại nghiệm tối ưu, θ1≈52.8∘ còn θ2≈13.8∘: Quãng chạy trên cát đi xiên nhiều để tận dụng tốc độ cao, trong khi quãng bơi dưới nước bẻ góc gần như vuông góc với bờ biển để giảm thiểu quãng đường bơi chậm.

Từ phương trình đại số đến phương pháp tối ưu số học ​

Khi bình phương hai vế để khử căn thức trong phương trình T′(x)=0, ta thu được một phương trình đại số bậc bốn đầy đủ theo biến x.

Mặc dù phương trình bậc bốn về mặt lý thuyết có công thức nghiệm căn thức Ferrari, nhưng biểu thức giải tích đó quá cồng kềnh và nhạy cảm với sai số làm tròn số học. Trong thực tế tính toán khoa học và trí tuệ nhân tạo, người ta không bao giờ giải nghiệm tường minh đại số cho những bài toán này. Thay vào đó, các thuật toán tối ưu số học (numerical optimization) như phương pháp chia đôi (bisection), thuật toán lặp tiếp tuyến Newton-Raphson, hoặc thuật toán hạ (gradient descent) được áp dụng để tìm ra nghiệm số x⋆≈52.6 m với độ chính xác tùy ý chỉ trong vài micro-giây.

Đặc tính toán học cốt lõi bảo đảm điểm dừng duy nhất này chắc chắn là điểm cực tiểu toàn cục trên toàn bộ miền xác định (chứ không phải một điểm dừng cục bộ) chính là tính chất hình học mà chúng ta sẽ khảo sát sâu ở các chủ đề tiếp theo: Hàm thời gian T(x) là một (convex function).

Ba trụ cột cốt lõi của một bài toán tối ưu ​

Bài học nhập môn cốt lõi của toàn bộ môn học tối ưu hóa nằm trọn vẹn trong ví dụ trực quan này. Trước khi bắt tay vào tìm lời giải hay áp dụng bất kỳ thuật toán nào, ta bắt buộc phải định nghĩa tường minh ba trụ cột của bài toán:

  1. Biến quyết định (Ta được quyền lựa chọn đại lượng nào?): Vị trí tiếp nước x trên đường bờ biển.
  2. Hàm mục tiêu (Tiêu chuẩn tối thượng cần tối thiểu hay tối đa hóa là gì?): Giảm thiểu tối đa tổng thời gian di chuyển T(x).
  3. Ràng buộc (Ranh giới giới hạn không gian hành động là gì?): Vận tốc tối đa trong từng môi trường và khoảng bờ biển cho phép tiếp nước 0≤x≤60.

Chỉ cần thay đổi một trong ba trụ cột này, bản chất toán học của bài toán sẽ lập tức biến đổi hoàn toàn. Chẳng hạn, nếu mục tiêu chuyển thành "quãng đường ngắn nhất" thay vì "thời gian ngắn nhất", đoạn thẳng AB sẽ lập tức trở thành nghiệm tối ưu!


2. Dạng tổng quát của một bài toán tối ưu ​

Trong lý thuyết tối ưu hóa toán học, một bài toán tối ưu tổng quát được biểu diễn dưới dạng chuẩn tắc (standard form) như sau:

minimizef0(x)subject tofi(x)≤0,i=1,…,m,subject tohi(x)=0,i=1,…,p.

Trong đó:

  • x∈Rn là biến quyết định (optimization variables): Các đại lượng ta có quyền điều khiển.
  • f0:Rn→R là hàm mục tiêu (objective function), hay hàm chi phí (cost function): Thang đo đánh giá chất lượng của từng phương án (giá trị càng nhỏ càng tốt).
  • fi(x)≤0 (i=1,…,m) là các ràng buộc bất đẳng thức (inequality constraints).
  • hi(x)=0 (i=1,…,p) là các ràng buộc đẳng thức (equality constraints).

Khi bài toán không có ràng buộc (m=p=0), ta gọi đó là bài toán tối ưu không ràng buộc (unconstrained optimization).

Quy ước đưa vế phải về 0 và quy đổi về bất đẳng thức ≤ hoàn toàn không làm mất tính tổng quát của bài toán:

  • Ràng buộc g(x)≤b được chuyển vế thành g(x)−b≤0.
  • Ràng buộc g(x)≥b được đổi dấu thành b−g(x)≤0.

Chẳng hạn, bài toán cứu hộ ở Mục 1 có biến quyết định vô hướng x, hàm mục tiêu f0(x)=T(x), và hai ràng buộc bất đẳng thức −x≤0 và x−60≤0.

Vì sao phải phân tách rạch ròi giữa Bất đẳng thức và Đẳng thức?

Về mặt thao tác đại số thuần túy, mọi ràng buộc đều có thể quy đổi qua lại lẫn nhau:

  • Một ràng buộc đẳng thức h(x)=0 có thể biểu diễn tương đương thành hai bất đẳng thức đồng thời: Cặp điều kiện h(x)≤0 và −h(x)≤0.
  • Ngược lại, một bất đẳng thức f(x)≤0 có thể chuyển thành đẳng thức bằng cách bổ sung một biến bù không âm (slack variable) s≥0: Phương trình f(x)+s=0.

Tuy nhiên, trong lý thuyết tối ưu hóa và thực tiễn kỹ nghệ AI, người ta luôn luôn tách biệt rạch ròi hai nhóm ràng buộc fi(x)≤0 và hi(x)=0 bởi ba lý do nền tảng:

  1. Bản chất hình học không gian (Geometric Dimensionality):
    • Ràng buộc đẳng thức hi(x)=0 làm giảm số bậc tự do (số chiều) của không gian tìm kiếm. Mỗi phương trình độc lập giam hãm nghiệm trên một mặt siêu cong mỏng dẹt (hypersurface) có số chiều n−1.
    • Ràng buộc bất đẳng thức fi(x)≤0 phân chia không gian thành hai nửa: Miền hợp lệ (vùng bên trong và biên) và miền cấm. Không gian tìm kiếm vẫn giữ nguyên số chiều n ban đầu.
  2. Độ ổn định số học và Giải thuật tính toán (Numerical Algorithm Stability):
    • Nếu ta ép một đẳng thức thành hai bất đẳng thức h(x)≤0 và −h(x)≤0, sẽ bị "bóp nghẹt" thành một tập có phần trong rỗng (empty interior). Điều này vi phạm nghiêm trọng điều kiện tiên quyết của các thuật toán điểm trong (Interior-point methods), tiêu biểu là điều kiện Slater, khiến hàm chắn logarit (log-barrier) và số học bị kỳ dị (phát nổ).
    • Giữ nguyên ràng buộc đẳng thức cho phép máy tính áp dụng các phép khử biến trực tiếp hoặc chiếu lên không gian con trực giao (projected gradient) một cách ổn định và chuẩn xác.
  3. Bản chất ngữ nghĩa của dữ liệu thực tế (Physical & Data Semantics):
    • Trong các bài toán thực tế, ràng buộc đẳng thức biểu thị các định luật bảo toàn bất biến của tự nhiên (bảo toàn năng lượng, cân bằng luồng mạng, tổng xác suất phân phối bằng 1).
    • Ràng buộc bất đẳng thức biểu thị các giới hạn tài nguyên hữu hạn (ngân sách chi tiêu, dung lượng bộ nhớ GPU, công suất trần của động cơ).

Việc giữ đúng bản chất ngữ nghĩa giúp mô hình trong sáng, dễ giải thích, và tạo điều kiện trực tiếp cho việc phân tích độ nhạy (sensitivity analysis) thông qua các nhân tử Lagrange tương ứng.

Phân biệt Biến quyết định và Dữ liệu bài toán ​

Một bài toán còn chứa các đại lượng không đổi trong suốt quá trình giải, chẳng hạn tọa độ A(0,40), B(60,−30) và các vận tốc 5 m/s,1.5 m/s trong bài toán cứu hộ. Chúng là dữ liệu bài toán (problem data) hay , được cố định trước khi tìm nghiệm.

Trong học máy, ranh giới này biến chuyển linh hoạt theo ngữ cảnh:

  • Trong pha huấn luyện (training phase): trọng số mô hình w là biến quyết định cần tối ưu, còn tập dữ liệu huấn luyện đóng vai trò là cố định.
  • Trong pha suy luận (inference phase): Bộ trọng số w đã được đóng băng cố định thành , và đầu vào x là dữ liệu mới cần xử lý.

Miền xác định của toàn bộ bài toán là giao của miền xác định của hàm mục tiêu và tất cả các hàm ràng buộc:

D=domf0∩(⋂i=1mdomfi)∩(⋂i=1pdomhi).

3. Điểm khả thi, Miền khả thi và Giá trị tối ưu ​

Một điểm x∈D được gọi là khả thi (feasible) nếu nó thỏa mãn đồng thời tất cả các ràng buộc: Cả hai điều kiện fi(x)≤0 và hi(x)=0 đều được thỏa mãn.

tất cả các tạo thành miền khả thi (feasible set) X. Khi X≠∅, bài toán được gọi là khả thi. Trái lại, nếu X=∅, bài toán là bất khả thi (infeasible).

Định nghĩa Giá trị tối ưu qua Infimum ​

Giá trị tối ưu (optimal value) của bài toán được định nghĩa là:

p⋆=inf{f0(x)∣x∈X}.

Ký hiệu inf () biểu thị cận dưới lớn nhất (greatest lower bound). Trong lý thuyết tối ưu hóa tổng quát, người ta sử dụng inf thay vì min bởi vì giá trị nhỏ nhất của một có thể không đạt được, trong khi cận dưới lớn nhất luôn tồn tại xác định trên tập số thực mở rộng R∪{−∞,+∞}:

  • Nếu bài toán bất khả thi (X=∅), theo quy ước toán học: Giá trị p⋆=+∞ (vì không có bất kỳ lựa chọn hợp lệ nào, chi phí tối thiểu được xem là vô hạn).
  • Nếu tồn tại một dãy xk làm f0(xk)→−∞, thì p⋆=−∞, và ta nói bài toán không bị chặn dưới (unbounded below).

Một x⋆∈X thỏa mãn f0(x⋆)=p⋆ được gọi là nghiệm tối ưu (optimal point / minimizer). Khi tồn tại ít nhất một nghiệm tối ưu, ta nói giá trị tối ưu đạt được (attained). tất cả các nghiệm tối ưu được gọi là tập tối ưu (optimal set) Xopt.

Ba tình huống kinh điển về sự tồn tại của nghiệm ​

Xét ba bài toán tối ưu một biến sau trên miền mở x>0:

Bài toán trên miền x>0Giá trị tối ưu p⋆Nghiệm tối ưu x⋆Bản chất toán học
minf0(x)=1/xp⋆=0Không tồn tạiBị chặn dưới bởi 0 nhưng không bao giờ chạm tới 0 khi x∈(0,+∞).
minf0(x)=−log⁡xp⋆=−∞Không tồn tạiBài toán không bị chặn dưới khi cho x→+∞.
minf0(x)=xlog⁡xp⋆=−1/ex⋆=1/eGiá trị tối ưu đạt được tại duy nhất một điểm dừng f0′(x)=log⁡x+1=0.

Trường hợp thứ nhất (f0(x)=1/x) là minh chứng trực quan nhất: Bài toán có giá trị tối ưu hữu hạn (p⋆=0) nhưng tập nghiệm tối ưu hoàn toàn rỗng!

Miền khả thi quyết định nghiệm

-2-11234

Giá trị tối ưu p* = 4.0000, đạt tại x* = 1.0000.

Nghiệm nằm đúng trên cận trên, nên ràng buộc đó chặt (active) tại x*. Bỏ ràng buộc này đi thì nghiệm sẽ thay đổi.

Gợi ý thao tác
  1. Với (x − 3)², đặt u = 1 rồi kéo u lên quá 3. Khi nào ràng buộc x ≤ u thôi chặt?
  2. Chọn 1/x và bỏ ràng buộc x ≤ u. Vì sao không có nghiệm dù p* hữu hạn?
  3. Chọn −log x và bỏ ràng buộc x ≤ u. Điều gì khác với trường hợp 1/x?
  4. Chọn hàm bậc bốn, đặt l = 0. Nghiệm nhảy sang điểm nào, và vì sao điểm −1.47 không còn được xét?
  5. Đặt l lớn hơn u. Máy báo gì?

Thử thách tư duy: Tập đóng và Định lý Weierstrass

Nếu bài toán minx với ràng buộc x>0 được chuyển thành x≥0, điều gì sẽ xảy ra với nghiệm tối ưu?

Xem phân tích chi tiết

Với x>0, giá trị tối ưu là p⋆=0 nhưng không đạt được vì điểm 0 không thuộc . Khi đổi thành x≥0, điểm 0 trở thành phương án khả thi và đạt đúng giá trị 0, biến x⋆=0 thành nghiệm tối ưu duy nhất!

Hai chỉ khác nhau đúng một điểm biên, nhưng đó lại chính là điểm tụ mà mọi phương án cải thiện đều hướng về. Theo Định lý Weierstrass, một liên tục trên một tập khả thi đóng và bị chặn (tập compact) khác rỗng luôn luôn đạt giá trị nhỏ nhất toàn cục. Đây là lý do trong thực tế, các ràng buộc bất đẳng thức luôn được thiết lập dưới dạng ≤ thay vì < để bảo đảm miền khả thi là một tập đóng.


4. Nghiệm ε-gần tối ưu và Tiêu chí dừng thuật toán ​

Trong tính toán số học trên máy tính, các thuật toán lặp hầu như không bao giờ chạm tới nghiệm chính xác tuyệt đối p⋆ do giới hạn độ chính xác dấu phẩy động. Do đó, trong lý thuyết tối ưu hóa người ta định nghĩa khái niệm nghiệm ε-gần tối ưu (ε-suboptimal point):

Một x∈X được gọi là ε-gần tối ưu nếu:

f0(x)≤p⋆+ε(ε>0).

Vì đây là bài toán cực tiểu, mọi đều có giá trị mục tiêu không nhỏ hơn p⋆. Khi p⋆ hữu hạn, điều kiện gần tối ưu vì thế có thể viết thành:

p⋆≤f0(x),f0(x)≤p⋆+ε.

Trên trục giá trị mục tiêu, ta cần tìm một có giá trị nằm trong đoạn từ p⋆ đến p⋆+ε, kể cả hai đầu mút. Điều kiện f0(x)≥p⋆ riêng lẻ chưa cho biết điểm đó đã đủ gần tối ưu hay chưa.

Ví dụ: Phân biệt điểm đạt yêu cầu, vượt ngưỡng và không khả thi

Xét bài toán cực tiểu f0(x)=x2 trên X=[1,3]. Vì x2≥1 trên miền này và dấu bằng đạt tại x=1, ta có p⋆=1. Chọn ε=3, khi đó ngưỡng chấp nhận là p⋆+ε=4.

Đồ thị hàm mục tiêu với năm điểm A, S, B, D, C. Hai đường mức 1 và 4 giới hạn dải gần tối ưu, còn vạch xiên đánh dấu phần không khả thi.
Đồ thị hàm mục tiêu với năm điểm A, S, B, D, C. Hai đường mức 1 và 4 giới hạn dải gần tối ưu, còn vạch xiên đánh dấu phần không khả thi.

Cách đọc hình: Trục ngang biểu diễn vị trí x, còn trục đứng biểu diễn giá trị f0(x). Mỗi điểm được đặt tại tọa độ (x,f0(x)). Vùng vạch xiên ở bên trái ứng với x<1, nên các điểm trong vùng đó bị loại trước khi xét sai số. Đoạn cong màu xanh là phần vừa khả thi vừa gần tối ưu. Đoạn cong màu nâu vẫn khả thi nhưng vượt ngưỡng đã chọn.

Hai đường ngang đánh dấu p⋆=1 và p⋆+ε=4. Khoảng cách theo trục đứng giữa chúng là ε=3. Dải xanh nhạt biểu diễn các giá trị mục tiêu từ 1 đến 4, nhưng một điểm nằm trong dải này vẫn phải thỏa ràng buộc mới được chấp nhận. Sai số ε đo độ chênh lệch của giá trị mục tiêu, không phải khoảng cách giữa hai vị trí trên trục x.

Xét từng điểm trên đồ thị:

  • Điểm A: Không khả thi. Tại x=0.5, ta có f0(x)=0.25. Giá trị này thấp hơn p⋆, nhưng 0.5∉[1,3]. Vì vậy, A không được gọi là điểm tối ưu hay gần tối ưu của bài toán, dù nó nằm dưới cả hai đường mức.
  • Điểm S: Tối ưu. Tại x=1, ta có f0(x)=1=p⋆. Điểm này khả thi và độ chênh lệch so với giá trị tối ưu bằng 0, nên cũng thỏa điều kiện gần tối ưu.
  • Điểm B: Gần tối ưu. Tại x=1.5, ta có f0(x)=2.25. Điểm này khả thi và nằm giữa hai đường mức. Độ chênh lệch là 2.25−1=1.25, nhỏ hơn ε=3.
  • Điểm D: Đúng ngưỡng, vẫn được chấp nhận. Tại x=2, ta có f0(x)=4. Điểm này khả thi và nằm trên đường mức trên. Độ chênh lệch là 4−1=3=ε. Vì định nghĩa dùng dấu ≤, D vẫn là điểm gần tối ưu.
  • Điểm C: Khả thi nhưng không gần tối ưu. Tại x=2.5, ta có f0(x)=6.25. Điểm này thuộc , nhưng nằm phía trên đường mức trên. Độ chênh lệch là 6.25−1=5.25, lớn hơn ε=3. Điều kiện f0(x)≥p⋆ đúng nhưng chưa đủ để chấp nhận C.

Các khoảng trên trục ngang: Vì x dương trên , điều kiện x2≤4 tương đương với x≤2. Do đó:

  • Đoạn [1,2]: Khả thi và gần tối ưu. Cả hai đầu mút đều được tính vào. Đầu trái là điểm tối ưu S, còn đầu phải là điểm D có sai số đúng bằng ε.
  • Khoảng (2,3]: Khả thi nhưng vượt ngưỡng. Đầu trái 2 không thuộc khoảng này vì D vẫn đạt yêu cầu. Đầu phải 3 thuộc , nhưng có giá trị mục tiêu 9>4.
  • Ngoài đoạn [1,3]: Không khả thi. Hình chỉ hiển thị phần 0≤x≤3, nên vùng vạch xiên minh họa phần bị loại ở bên trái. Các giá trị x<0 hoặc x>3 cũng không thuộc của bài toán.

Với một , trường hợp f0(x)<p⋆ không thể xảy ra. Nếu thêm điều kiện f0(x)≤p⋆, ta buộc phải có f0(x)=p⋆, tức là điểm tối ưu. Điểm A cho thấy vì sao ta phải kiểm tra ràng buộc trước khi so sánh giá trị mục tiêu với bất kỳ ngưỡng nào.

Khái niệm này đóng vai trò quyết định trong việc thiết lập tiêu chí dừng (stopping criteria) của các thuật toán: Nếu ta tìm được một chặn dưới lý thuyết ℓ≤p⋆ (thường xuất phát từ bài toán đối ngẫu Lagrange) và một x thỏa mãn:

f0(x)−ℓ≤ε,

thì ta có thể khẳng định chắc chắn 100% rằng điểm x đang xét là ε-gần tối ưu, ngay cả khi ta chưa hề biết giá trị chính xác của p⋆!

Trong ví dụ trên, ℓ=0 là một chặn dưới hợp lệ. Tại điểm B, ta có f0(1.5)−ℓ=2.25≤3, nên tiêu chí dừng chứng nhận được điểm này. Tại x=2, khoảng cách đến chặn dưới là 4>3, dù điểm đó vẫn gần tối ưu với sai số đã chọn. Như vậy, tiêu chí dùng chặn dưới là điều kiện đủ. Nếu tiêu chí chưa thỏa, ta chưa thể kết luận điểm đang xét không gần tối ưu.

Quay lại bài toán người cứu hộ: Vì 402+x2≥40 và 302+(60−x)2≥30, nên mọi phương án di chuyển đều tốn ít nhất:

ℓ=405+301.5=8+20=28 s.

Do đó ℓ=28 s là một chặn dưới hợp lệ của p⋆. Phương án chạy đến x=60 rồi bơi thẳng tốn khoảng 34.42 s. Không cần giải phương trình đạo hàm, ta đã biết chắc chắn phương án này cách nghiệm tối ưu không quá 34.42−28=6.42 s. Kỹ thuật kẹp giá trị tối ưu giữa một và một cận dưới đối ngẫu chính là linh hồn của lý thuyết Đối ngẫu Lagrange ở Bài 03.


5. Cực tiểu cục bộ và Cực tiểu toàn cục ​

Trong bài toán tối ưu tổng quát, ta cần phân biệt rạch ròi hai cấp độ tối ưu:

  • Tối ưu toàn cục (Global optimum): Điểm x⋆∈X thỏa mãn f0(x⋆)≤f0(z) với mọi z∈X.
  • Tối ưu cục bộ (Local optimum): Điểm x∈X chỉ tốt hơn các phương án khả thi nằm trong một lân cận bán kính R>0 quanh nó:
    f0(x)≤f0(z)∀z∈X,∥z−x∥2≤R.

Trong toàn bộ môn học này, khi dùng từ "nghiệm tối ưu" mà không kèm định ngữ, ta luôn mặc định hiểu là nghiệm tối ưu toàn cục.

Cực tiểu toàn cục (x*)Cực đại cục bộCực tiểu cục bộ (Bẫy)
Hình 1.2: Đồ thị hàm không lồi với hai lòng máng cực tiểu. Thuật toán leo đồi hoặc hạ gradient cục bộ có thể bị giữ chân và hội tụ nhầm tại cực tiểu cục bộ bên phải.

Xét f(x)=x4−4x2+x:

  • Điểm x≈1.35 có f(x)≈−2.62 là một cực tiểu cục bộ.
  • Điểm x≈−1.47 có f(x)≈−5.44 là cực tiểu toàn cục.

Nếu một thuật toán tối ưu chỉ dựa trên thông tin cục bộ tại vị trí hiện tại và xuất phát ở phía bên phải, nó sẽ nhanh chóng trượt xuống đáy x≈1.35 và dừng lại mà hoàn toàn không hay biết rằng ở phía bên trái tồn tại một thung lũng sâu hơn rất nhiều.

Sự khác biệt giữa cục bộ và toàn cục chính là thách thức lớn nhất của tối ưu hóa phi tuyến tổng quát. Định lý nền tảng hóa giải trọn vẹn nguy cơ rơi vào bẫy cực tiểu cục bộ chính là: Trong bài toán tối ưu lồi, mọi cực tiểu cục bộ đều là cực tiểu toàn cục!


6. Ràng buộc chặt, Ràng buộc thừa và Bài toán khả thi ​

Tại một x∈X:

  • Ràng buộc bất đẳng thức fi(x)≤0 được gọi là chặt (active / binding) nếu dấu đẳng thức xảy ra: fi(x)=0.
  • Ngược lại, nếu fi(x)<0, ràng buộc được gọi là không chặt (inactive).
  • Mọi ràng buộc đẳng thức hi(x)=0 luôn chặt tại mọi .

Ý nghĩa hình học: Ràng buộc chặt là ràng buộc mà điểm nghiệm đang chạm trực tiếp vào đường biên giới hạn của nó. Trong khi đó, ràng buộc không chặt vẫn còn một khoảng hở an toàn.

Ví dụ: Minh họa ràng buộc chặt và ràng buộc không chặt

Xét bài toán tìm giá trị vô hướng c khớp với ba số thực 1,5,6:

minc (c−1)2+(c−5)2+(c−6)2.
  • Khi chưa có ràng buộc: Đạo hàm 6c−24=0⟹c=4 (trung bình cộng), hàm mục tiêu đạt giá trị 14.
  • Nếu bổ sung ràng buộc c≤3: Điểm c=4 không còn khả thi. Trên miền c≤3, hàm mục tiêu nghịch biến nên nghiệm bị đẩy về biên c⋆=3, giá trị mục tiêu tăng lên 17. Ràng buộc c≤3 chặt tại nghiệm và nó trực tiếp định hình nghiệm tối ưu.
  • Nếu bổ sung ràng buộc c≤5: Điểm c=4 vẫn khả thi và thỏa mãn 4≤5. Nghiệm tối ưu giữ nguyên là c⋆=4. Ràng buộc c≤5 không chặt tại nghiệm.

Một ràng buộc được gọi là thừa (redundant) nếu việc loại bỏ nó không làm thay đổi X. Cần lưu ý: Một ràng buộc không chặt tại nghiệm tối ưu vẫn có thể không thừa, vì nó vẫn làm nhiệm vụ cắt bỏ một phần không gian ở các vùng khác.

Bài toán khả thi (Feasibility Problem) ​

Khi hàm mục tiêu đồng nhất bằng 0 (f0(x)≡0), giá trị tối ưu của bài toán chỉ có thể nhận hai giá trị:

  • p⋆=0 nếu X≠∅.
  • p⋆=+∞ nếu X=∅.

Bài toán khi đó được gọi là Bài toán khả thi:

findxsubject tofi(x)≤0,i=1,…,m,subject tohi(x)=0,i=1,…,p.

Bài toán khả thi không tìm kiếm phương án tốt nhất, mà trả lời câu hỏi tiên quyết: Hệ ràng buộc có mâu thuẫn hay không, và nếu không thì hãy chỉ ra ít nhất một . Trong thực tế, nhiều thuật toán giải tối ưu phức tạp (như Pha 1 của thuật toán Simplex hay phương pháp điểm trong) bắt buộc phải giải một bài toán khả thi trước để tìm điểm xuất phát hợp lệ.


7. Bài toán Cực đại và các Phép biến đổi tương đương ​

Theo quy ước chuẩn tắc quốc tế trong lý thuyết tối ưu hóa, ta luôn thống nhất làm việc với bài toán cực tiểu hóa. Một bài toán cực đại hóa hàm mục tiêu f0(x) được chuyển đổi tự nhiên sang bài toán cực tiểu tương đương:

maxx∈Xf0(x)⟺minx∈X(−f0(x)).

Hai bài toán có cùng tập nghiệm tối ưu, trong khi giá trị tối ưu đổi dấu:

pmax⋆=−pmin⋆.

Trong học máy, phép biến đổi này được áp dụng liên tục: Thay vì cực đại hóa của mô hình trên tập dữ liệu (Maximum Likelihood Estimation - MLE), người ta cực tiểu hóa hàm đối số âm log-likelihood (Negative Log-Likelihood - NLL):

maxθ∏i=1NP(yi∣xi;θ)⟺minθ∑i=1N−log⁡P(yi∣xi;θ).

Phép lấy logarit biến tích thành tổng và bảo toàn nguyên vẹn vị trí cực trị nhờ tính đồng biến ngặt của hàm log.


8. Ba dạng bài toán thực tế điển hình ​

Bảng dưới đây minh họa cách mô hình hóa ba bài toán kỹ nghệ điển hình dưới cùng một khuôn dạng toán học:

Lĩnh vực ứng dụngBiến quyết định xHàm mục tiêu f0(x)Các ràng buộc tiêu biểu
Phân bổ danh mục đầu tư tài chínhTỷ trọng vốn đầu tư vào từng mã tài sảnMức độ rủi ro (phương sai danh mục σ2)Tổng tỷ trọng bằng 1, không bán khống (xi≥0), lợi nhuận kỳ vọng đạt ngưỡng mục tiêu.
Thiết kế vi mạch tích hợp (VLSI)Kích thước hình học (chiều rộng, chiều dài) từng cổng logicTổng công suất tiêu thụ điện năngGiới hạn dung sai chế tạo bán dẫn, diện tích chip tối đa, trễ đường truyền tín hiệu không vượt ngưỡng.
Huấn luyện mô hình học máy trọng số và bias của mạng nơ-ronHàm mất mát (MSE, Cross-entropy) cộng số hạng điều chuẩnGiới hạn chuẩn trọng số (L2,L1), ràng buộc phi âm cho các xác suất.

Lưu ý: Nguyên lý mô hình hóa trong AI

Lời giải tối ưu chỉ có giá trị khi mô hình toán học phản ánh trung thực bài toán thực tế. Một mô hình khớp hoàn hảo dữ liệu huấn luyện (loss bằng 0) vẫn có thể thất bại thảm hại khi triển khai thực tế nếu tiêu chí tối ưu hóa không bao hàm khả năng khái quát hóa (generalization) trên dữ liệu mới.


9. Những câu hỏi để đào sâu bản chất ​

Câu 1. Khẳng định "Một bài toán tối ưu có giá trị tối ưu hữu hạn thì chắc chắn tồn tại nghiệm tối ưu" là đúng hay sai? Hãy nêu một điều kiện đủ để khẳng định trở thành đúng.

Xem phân tích chi tiết

Khẳng định trên là sai. Phản ví dụ kinh điển: minx∈Rex. Vì ex>0 với mọi x và tiến dần về 0 khi x→−∞, giá trị tối ưu là p⋆=0 (hữu hạn), nhưng không tồn tại bất kỳ số thực x nào để ex=0. Tập nghiệm tối ưu là rỗng.

Để khẳng định đúng, theo Định lý Weierstrass: Hàm mục tiêu f0(x) phải liên tục và X phải là một tập khác rỗng, đóng và bị chặn (tập compact). Trong phản ví dụ trên, miền R đóng nhưng không bị chặn.

Câu 2. Bài toán min(x−1)2 với ràng buộc x2≤4 có bao nhiêu ràng buộc chặt tại nghiệm? Nếu đổi ràng buộc thành x2≤1/4 thì kết luận thay đổi thế nào?

Xem phân tích chi tiết
  • Với x2≤4⟺x∈[−2,2]: Điểm cực tiểu không ràng buộc x=1 nằm gọn bên trong khoảng (−2,2). Do đó nghiệm tối ưu là x⋆=1, giá trị tối ưu bằng 0. Tại điểm này, 12−4=−3<0, ràng buộc không chặt.
  • Với x2≤1/4⟺x∈[−1/2,1/2]: Hàm (x−1)2 nghịch biến trên đoạn này, do đó nghiệm tối ưu bị đẩy sát biên phải x⋆=1/2 với giá trị (1/2−1)2=1/4. Ràng buộc (1/2)2=1/4 trở thành chặt.

Câu 3. Trong bài toán người cứu hộ, nếu vận tốc bơi dưới nước bằng đúng vận tốc chạy trên cát (v1=v2) thì lộ trình tối ưu là gì? Nếu ngược lại, người cứu hộ có ca nô chạy trên nước với vận tốc 5 m/s trong khi bãi cát lún chỉ đi được 1.5 m/s thì lộ trình thay đổi thế nào?

Xem phân tích chi tiết
  • Khi v1=v2=v: Hàm thời gian T(x)=1v(|AP|+|PB|). Tối thiểu hóa thời gian trùng với tối thiểu hóa quãng đường hình học. Theo bất đẳng thức tam giác, |AP|+|PB|≥|AB|, dấu bằng xảy ra khi P nằm chính xác trên đoạn thẳng AB. Điểm tiếp nước tối ưu là giao điểm của AB với bờ biển (x=240/7≈34.29 m). Hệ thức Snell khi đó cho sin⁡θ1=sin⁡θ2⟹θ1=θ2, hai đoạn nối tiếp thẳng hàng không bị bẻ góc.
  • Khi v1=1.5 m/s (cát) và v2=5 m/s (nước): Vì v2>v1, hệ thức Snell sin⁡θ11.5=sin⁡θ25 buộc θ2>θ1. Lộ trình tối ưu sẽ đi gần như vuông góc qua bãi cát để xuống nước sớm nhất, rồi chạy xiên với tốc độ cao trên mặt nước (x⋆≈10.6 m). Quy tắc trực giác: Đi xiên ở môi trường nhanh, đi vuông góc với mặt phân cách ở môi trường chậm.

Câu 4. Hãy tìm một bài toán tối ưu khả thi, bị chặn dưới, có nghiệm, nhưng tập tối ưu chứa vô số điểm.

Xem phân tích chi tiết

Xét bài toán minf0(x)=max{0,|x|−1} trên R. nhận giá trị bằng 0 trên toàn bộ đoạn [−1,1] và nhận giá trị dương bên ngoài đoạn này. Do đó, giá trị tối ưu là p⋆=0, và tập nghiệm tối ưu là toàn bộ đoạn thẳng Xopt=[−1,1] gồm vô số điểm. Điều này chứng minh rằng tập nghiệm tối ưu không nhất thiết phải là một điểm đơn lẻ, mà có thể là một liên tục.

Câu 5. Hai bài toán minf0(x) và minef0(x) trên cùng một X có cùng tập nghiệm tối ưu không? Có cùng giá trị tối ưu không?

Xem phân tích chi tiết
  • Cùng tập nghiệm tối ưu: Vì g(u)=eu là hàm đồng biến ngặt trên R, thứ tự giữa các giá trị được bảo toàn tuyệt đối: f0(x)≤f0(y)⟺ef0(x)≤ef0(y). Do đó mọi điểm cực tiểu của bài toán này cũng là điểm cực tiểu của bài toán kia.
  • Giá trị tối ưu khác nhau: Chúng liên hệ qua công thức p2⋆=ep1⋆ (nếu p1⋆ hữu hạn). Đây là minh chứng mẫu mực cho khái niệm hai bài toán tương đương (equivalent problems): Khác nhau về giá trị nhưng bảo toàn trọn vẹn nghiệm tối ưu.

Câu 6. Cận dưới 28 s ở Mục 4 khá lỏng. Hãy áp dụng bất đẳng thức Cauchy–Schwarz p2+q2≥pcos⁡φ+qsin⁡φ (đúng với mọi góc φ) để tìm cận dưới chặt nhất cho hàm thời gian T(x).

Xem phân tích chi tiết

Áp dụng bất đẳng thức cho từng số hạng của T(x) với hai góc φ1,φ2∈[0,π/2]:

T(x)≥40cos⁡φ1+xsin⁡φ15+30cos⁡φ2+(60−x)sin⁡φ21.5.

Gom các số hạng chứa biến x:

T(x)≥8cos⁡φ1+20cos⁡φ2+40sin⁡φ2+x(sin⁡φ15−sin⁡φ21.5).

Để cận dưới hoàn toàn độc lập với biến x (đúng với mọi vị trí tiếp nước), hệ số của x bắt buộc phải triệt tiêu:

sin⁡φ15=sin⁡φ21.5.

Điều kiện để triệt tiêu biến x lại xuất hiện chính xác là ! Khi chọn φ1=θ1⋆≈52.8∘ và φ2=θ2⋆≈13.8∘, cận dưới đạt giá trị lớn nhất đúng bằng 33.82 s=T(x⋆). Đây là minh chứng tuyệt mỹ cho nguyên lý đối ngẫu: Cận dưới đối ngẫu tốt nhất chạm đúng giá trị tối ưu của bài toán gốc!


10. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: Bài toán cứu hộ khi bờ biển có chướng ngại vật

Trở lại bài toán người cứu hộ ở Mục 1, nhưng giả sử đoạn bờ biển ứng với x>45 m là bãi đá ngầm nguy hiểm, người cứu hộ không được phép tiếp nước tại đó.

  1. Viết bài toán tối ưu mới dưới dạng chuẩn tắc.
  2. Tìm nghiệm tối ưu mới x⋆ và cho biết ràng buộc nào chặt tại nghiệm.
  3. Tính đạo hàm T′(45) và giải thích vì sao phương trình T′(x)=0 không thể dùng để tìm nghiệm trong trường hợp này.
Lời giải
  1. Bài toán dạng chuẩn tắc:
    minT(x)satisfying−x≤0,x−45≤0.
    (Ràng buộc cũ x≤60 trở thành ràng buộc thừa vì đã có x≤45).
  2. Nghiệm tối ưu không ràng buộc x≈52.6 m bị vi phạm vì nằm ngoài mới [0,45]. Tính đạo hàm tại biên: Giá trị T′(45)≈−0.149<0. Vì đạo hàm cấp hai T″(x)>0 trên toàn miền, T′(x) là hàm tăng ngặt. Do đó T′(x)<0 với mọi x∈[0,45]. Hàm thời gian T(x) nghịch biến trên toàn bộ miền khả thi [0,45]. Nghiệm tối ưu mới bắt buộc nằm tại mút biên phải:
    x⋆=45 m,T(45)≈34.40 s.
    Ràng buộc x≤45 chặt tại nghiệm.
  3. Tại nghiệm, T′(45)≈−0.149≠0. Đạo hàm không triệt tiêu vì nghiệm nằm tại biên của , nơi người cứu hộ muốn tiếp tục dịch sang phải để bơi ít hơn nhưng rào cản bãi đá đã chặn đứng chuyển động này. Phương trình T′(x)=0 có nghiệm tại x≈52.6 m, hoàn toàn nằm ngoài miền khả thi!

Bài tập 2: Xác định giá trị tối ưu và tập tối ưu

Xác định , giá trị tối ưu p⋆ và tập tối ưu Xopt cho các bài toán sau:

  1. min(x−5)2 với 1≤x≤3.
  2. min(x+1)2 với −1<x≤2.
  3. minx với x≥3 và x≤2.
  4. min(3−x) với x≥1.
Lời giải
  1. là đoạn [1,3]. Vì x≤3<5, hàm (x−5)2 nghịch biến trên đoạn này. Nghiệm tối ưu là x⋆=3, giá trị tối ưu p⋆=(3−5)2=4. Tập tối ưu Xopt={3}.
  2. là nửa khoảng (−1,2]. Vì (x+1)2>0 với mọi x>−1 và tiến dần về 0 khi x→−1+, giá trị tối ưu là p⋆=0. Tuy nhiên điểm −1 không thuộc miền khả thi, nên không tồn tại nghiệm. Tập tối ưu là rỗng: Xopt=∅.
  3. Hệ ràng buộc x≥3 và x≤2 không có điểm chung. rỗng, bài toán bất khả thi: p⋆=+∞, Xopt=∅.
  4. Khi x→+∞, hàm 3−x→−∞. Bài toán không bị chặn dưới: p⋆=−∞, Xopt=∅.

Bài tập 3: Quy chuẩn hóa về dạng chuẩn tắc

Đưa bài toán tối ưu sau về dạng chuẩn tắc:

maxx1,x25x1+4x2satisfyingx1+x2≤6,2x1+x2≤9,x1≥0,x2≥0.
Lời giải

Chuyển bài toán cực đại thành bài toán cực tiểu hàm đối số âm, chuyển các ràng buộc về dạng vế phải bằng 0:

minimizef0(x1,x2)=−5x1−4x2subject tof1(x1,x2)=x1+x2−6≤0,subject tof2(x1,x2)=2x1+x2−9≤0,subject tof3(x1,x2)=−x1≤0,subject tof4(x1,x2)=−x2≤0.

Bài toán có 4 ràng buộc bất đẳng thức và 0 ràng buộc đẳng thức. Giá trị tối ưu của bài toán cực đại ban đầu bằng −p⋆ của bài toán chuẩn tắc. (Đây là một bài toán quy hoạch tuyến tính kinh điển với nghiệm tối ưu tại đỉnh (x1⋆,x2⋆)=(3,3) và giá trị cực đại bằng 27).


Tóm tắt cốt lõi ​

  1. Ba trụ cột của bài toán tối ưu: Biến quyết định (những gì được chọn), Hàm mục tiêu (tiêu chí đánh giá chất lượng) và Các ràng buộc (ranh giới khả thi).
  2. Giá trị tối ưu vs Nghiệm tối ưu: Giá trị tối ưu p⋆ được xác định qua (luôn tồn tại trên R∪{±∞}). Nghiệm tối ưu là đạt đúng p⋆ và có thể không tồn tại dù p⋆ hữu hạn.
  3. Cực tiểu cục bộ vs Cực tiểu toàn cục: Cực tiểu cục bộ chỉ tốt trong lân cận nhỏ, trong khi cực tiểu toàn cục tốt nhất trên toàn . Tính lồi là bảo chứng vàng giúp hai khái niệm này hợp nhất.
  4. Bản chất của ràng buộc: Ràng buộc đẳng thức làm giảm số bậc tự do của không gian tìm kiếm, trong khi ràng buộc bất đẳng thức phân chia không gian thành miền hợp lệ và miền cấm. Ràng buộc chặt tại nghiệm là ràng buộc trực tiếp định hình vị trí tối ưu.

Tài liệu đọc thêm và Nghiên cứu chuyên sâu ​

Dành cho người học muốn nghiên cứu chuyên sâu về nền tảng giải tích của bài toán tối ưu hóa:

  • Stephen Boyd & Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press, Chương 1 (Introduction) và Chương 4 (§4.1: Optimization problem formulation).
  • Jorge Nocedal & Stephen J. Wright, Numerical Optimization, Springer, Chương 1 và 2 về các nguyên lý cơ bản của tối ưu hóa liên tục.
  • Dimitris Bertsimas & John N. Tsitsiklis, Introduction to Linear Optimization, Athena Scientific, Chương 1 về mô hình hóa các bài toán ra quyết định thực tế.
  • Eugene Hecht, Optics, Pearson. Khảo sát chi tiết về Nguyên lý thời gian cực tiểu của Fermat và trong quang hình học.

Bài giảng 01: Nhập môn tối ưu hóa · Chủ đề tiếp theo: Bình phương tối thiểu và Quy hoạch tuyến tính

Toàn bộ chủ đề của Lecture 01Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to