Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Quy hoạch toàn phương và QCQP

Chủ đề 7 / 19
  1. 1. Bài toán tương đương và các phép biến đổi cơ bản
  2. 2. Khử ràng buộc đẳng thức và tối ưu theo từng nhóm biến
  3. 3. Hàm tựa lồi và phương pháp chia đôi
  4. 4. Quy hoạch tuyến tính: Các dạng viết và hình học của nghiệm
  5. 5. Những bài toán trở thành LP
  6. 6. Quy hoạch phân tuyến tính
  7. 7. Quy hoạch toàn phương và QCQP
  8. 8. Quy hoạch nón bậc hai và LP bền vững
  9. 9. Quy hoạch hình học
  10. 10. Bài toán dạng nón và quy hoạch nửa xác định
  11. 11. Phần bù Schur và các bài toán về trị riêng
  12. 12. Tối ưu vector, điểm Pareto và đường đánh đổi
  13. 13. Khớp hàm, làm mượt spline và nội suy lồi
  14. 14. Ước lượng phi tham số và thiết kế bộ phát hiện
  15. 15. Cận xác suất Chebyshev, Chernoff và tối ưu hóa ma trận
  16. 16. Quy hoạch mặt bằng và phân bổ không gian tối ưu
  17. 17. Thiết kế thí nghiệm tối ưu và Ma trận thông tin Fisher
  18. 18. Ellipsoid thể tích cực trị và Các điểm tâm hình học
  19. 19. Bài toán định vị, đặt vị trí và tối ưu hóa mạng lưới

Quy hoạch tuyến tính dùng hàm mục tiêu phẳng như một mặt dốc. Rất nhiều bài toán thực tế lại có hàm mục tiêu cong: Bình phương sai số, phương sai của rủi ro, bình phương khoảng cách. Khi hàm mục tiêu là một hàm toàn phương lồi và các ràng buộc vẫn affine, ta có một quy hoạch toàn phương (quadratic program, QP). Sự thay đổi tưởng chừng nhỏ bé ấy làm hình học của nghiệm khác hẳn: Nghiệm không còn bị buộc phải nằm ở đỉnh của đa diện.

Bài giảng này trình bày chi tiết về QP, dạng mở rộng QCQP, cùng năm mô hình ứng dụng tiêu biểu cho thấy QP xuất hiện tự nhiên từ các bài toán cốt lõi: Thống kê học máy, hình học tính toán, lý thuyết xác suất và tối ưu hóa tài chính.

1. Bài toán ​

Một QP có dạng

minimize12xTPx+qTx+rsubject toGx⪯h,Ax=b,

với P∈S+n, tức P đối xứng và nửa xác định dương. Điều kiện P⪰0 là điều làm hàm mục tiêu lồi, nên QP là bài toán lồi. Thiếu điều kiện này, ta vẫn có một bài toán cực tiểu hàm toàn phương trên đa diện, nhưng nó không còn lồi và nói chung rất khó, như Câu 2 sẽ cho thấy. Với P=0, QP trở thành LP.

Về hình học, các tập mức của hàm mục tiêu là những ellipse đồng tâm khi P≻0. Nghiệm là điểm đầu tiên của đa diện mà các ellipse chạm vào khi chúng nở ra từ tâm. Có ba khả năng. Nếu tâm, tức nghiệm của bài toán không ràng buộc, nằm trong đa diện, thì đó là nghiệm và không ràng buộc nào chặt. Nếu không, ellipse có thể chạm đa diện tại một điểm giữa một cạnh, hoặc tại một đỉnh. Khác với LP, trường hợp thứ nhất và thứ hai là bình thường, không phải ngoại lệ. Khi P≻0, hàm mục tiêu lồi chặt, nên nghiệm, nếu có, là duy nhất.

2. QCQP ​

Nếu cả các ràng buộc bất đẳng thức cũng là hàm toàn phương lồi,

minimize12xTP0x+q0Tx+r0subject to12xTPix+qiTx+ri≤0,i=1,…,m,subject toAx=b,

với Pi⪰0, ta có một quy hoạch toàn phương với ràng buộc toàn phương (QCQP). Khi Pi≻0, mỗi ràng buộc mô tả một ellipsoid, và ta cực tiểu một hàm toàn phương lồi trên giao của các ellipsoid. Các họ bài toán lồng ghép vào nhau: LP là trường hợp riêng của QP khi P=0, và QP là trường hợp riêng của QCQP khi mọi Pi=0. Một ràng buộc như x12+x22≥1 không thuộc QCQP, vì viết thành 1−x12−x22≤0 thì vế trái lõm, và là phần bên ngoài một hình tròn, không lồi.

3. Bình phương tối thiểu có ràng buộc ​

Bài toán cực tiểu ∥Ax−b∥22=xTATAx−2bTAx+bTb là một QP không ràng buộc với P=2ATA⪰0, và nó có công thức nghiệm quen thuộc qua phương trình chuẩn. Khi thêm ràng buộc tuyến tính, chẳng hạn cận dưới và cận trên cho từng biến, li≤xi≤ui, ta được bình phương tối thiểu có ràng buộc. Bài toán vẫn là QP, nhưng không còn công thức nghiệm đơn giản.

Ví dụ: Xét bài toán khớp hàm y≈w1u+w2 với tập dữ liệu u=(1,2,3,4), y=(2,3.5,5.5,7), trong đó hệ số góc là một đại lượng vật lý bị chặn trong khoảng [0,1]. Nếu không có ràng buộc, nghiệm bình phương tối thiểu tự do là w=(1.7, 0.25) với tổng bình phương sai số 0.05. Hệ số góc 1.7 vi phạm ràng buộc miền vật lý. Dùng tối ưu theo từng nhóm biến: Với w1 cố định, hệ số chặn tốt nhất là y¯−w1u¯, và tổng bình phương sai số còn lại là một parabol theo w1 có đỉnh tại 1.7. Trên đoạn [0,1], parabol này giảm, nên w1⋆=1, kéo theo w2⋆=4.5−2.5=2, với tổng bình phương sai số là 2.5. Cái giá của việc áp đặt ràng buộc vật lý là sai số khớp tăng từ 0.05 lên 2.5.

Có một cám dỗ cần tránh: Giải bài toán không ràng buộc rồi kẹp từng thành phần vào hộp. Khi các biến tương quan với nhau, cách làm ấy có thể cho kết quả tệ, như Câu 3 sẽ cho thấy.

4. Khoảng cách giữa hai đa diện ​

Khoảng cách Euclid giữa hai đa diện P1={x:A1x⪯b1} và P2={x:A2x⪯b2} là giá trị tối ưu của QP

minimize∥x1−x2∥22subject toA1x1⪯b1,A2x2⪯b2,

với biến (x1,x2). Bài toán bất khả thi khi và chỉ khi một trong hai đa diện rỗng. Giá trị tối ưu bằng 0 khi và chỉ khi hai đa diện giao nhau. Trong trường hợp còn lại, nghiệm là cặp điểm gần nhau nhất của hai đa diện, và như mô phỏng cho thấy, đường trung trực của đoạn nối chúng là một siêu phẳng tách hai đa diện. Lecture 01 đã dùng đúng cặp điểm gần nhất này để chứng minh định lý siêu phẳng phân tách. Giờ lời chứng minh ấy đã thành một thuật toán: Giải một QP rồi lấy đường trung trực.

Hai điểm gần nhau nhất của hai đa giác

Kéo đa giác bên phải. Cặp điểm gần nhau nhất là nghiệm của một QP bốn biến, và đường trung trực của đoạn nối chúng tách hai đa giác.

P₁P₂

P₁P₂ (rời P₁)P₂ chồng lên P₁đoạn ngắn nhấtđường thẳng tách

QP: cực tiểu ‖x₁ − x₂‖² với x₁ ∈ P₁ và x₂ ∈ P₂, gồm 4 biến và 8 bất đẳng thức tuyến tính.

Khoảng cách 1.370, đạt tại x₁ = (2.38, 1.23) và x₂ = (3.70, 1.60).

Đường trung trực của đoạn x₁x₂ tách hẳn hai đa giác: đây là một siêu phẳng tách, dựng được từ nghiệm của QP.

Gợi ý thao tác
  1. Kéo P₂ quanh P₁. Cặp điểm gần nhất khi thì là hai đỉnh, khi thì là một đỉnh và một điểm giữa cạnh. Khi nào xảy ra trường hợp nào?
  2. Khi điểm gần nhất nằm giữa một cạnh, đoạn ngắn nhất tạo với cạnh ấy góc bao nhiêu?
  3. Kéo hai đa giác cho chạm nhau. Nghiệm của QP còn duy nhất không?
  4. Kéo P₂ dọc một đường thẳng đi ngang qua P₁ và theo dõi khoảng cách. Vì sao khoảng cách, xem như hàm của vị trí P₂, là một hàm lồi?

5. Phương sai lớn nhất và chi phí ngẫu nhiên ​

Phương sai lớn nhất. Trở lại bài toán tối ưu trên phân phối xác suất: Xét biến ngẫu nhiên nhận các giá trị f1,…,fn với phân phối xác suất p⪰0, ∑i=1npi=1. Phương sai của f(x) được tính tường minh:

Var(f(x))=∑i=1nfi2pi−(∑i=1nfipi)2=E[f(x)2]−(E[f(x)])2,

đây là một hàm lõm bậc hai của p, vì nó là một hàm tuyến tính trừ đi bình phương của một hàm tuyến tính. Cực đại một hàm lõm trên đa diện là một bài toán lồi, và ở đây nó chính là một bài toán QP. Với biến nhận giá trị trong {0,1,2,3,4} và trung bình nằm trong đoạn [1,2], phương sai lớn nhất có thể là 4, đạt khi dồn một nửa khối lượng vào 0 và nửa kia vào 4. Kết quả khớp với trực giác: Muốn phương sai lớn, hãy đẩy khối lượng xác suất dồn ra hai đầu biên.

LP có chi phí ngẫu nhiên. Xét một LP mà vector chi phí c là ngẫu nhiên, với trung bình c¯ và hiệp phương sai Σ. Với một quyết định x, chi phí cTx có trung bình c¯Tx và phương sai xTΣx. Thường có một sự đánh đổi giữa chi phí trung bình nhỏ và rủi ro nhỏ. Cực tiểu chi phí có tính đến rủi ro c¯Tx+γxTΣx, với γ≥0 là mức ngại rủi ro, trên cùng là một QP, vì Σ⪰0.

6. Danh mục đầu tư Markowitz ​

Bài toán danh mục đầu tư kinh điển của Markowitz là một QP. Có n tài sản, xi là tỉ lệ vốn đặt vào tài sản i, với 1Tx=1 và x⪰0 nếu không cho phép bán khống. Lợi suất của các tài sản là một vector ngẫu nhiên với trung bình p¯ và hiệp phương sai Σ, nên lợi suất của danh mục có trung bình p¯Tx và phương sai xTΣx. Bài toán là

minimizexTΣxsubject top¯Tx≥rmin,1Tx=1,x⪰0,

tức tìm danh mục ít rủi ro nhất trong những danh mục đạt lợi suất trung bình tối thiểu rmin.

Ví dụ: Xét danh mục gồm hai tài sản đầu tư: Tài sản A có lợi suất trung bình 10% và độ lệch chuẩn 15%, tài sản B có 4% và 5%, hệ số tương quan −0.2. Danh mục ít rủi ro nhất, không cần đạt lợi suất nào, đặt 17≈14.3% vốn vào A. Nó có lợi suất khoảng 4.86% và độ lệch chuẩn khoảng 4.39%, thấp hơn cả tài sản an toàn hơn trong hai tài sản. Đây là sức mạnh của đa dạng hóa: Khi hai tài sản tương quan âm, biến động của chúng triệt tiêu một phần. Nếu đòi lợi suất ít nhất 7%, ràng buộc lợi suất chặt, buộc đặt một nửa vốn vào mỗi tài sản, và độ lệch chuẩn tăng lên khoảng 7.42%. Chủ đề tối ưu vector sẽ xem toàn bộ đường đánh đổi giữa lợi suất và rủi ro.

7. Những câu hỏi để đào sâu ​

Câu 1. Trong LP, nghiệm (nếu có) luôn có thể chọn ở một đỉnh của đa diện có đỉnh. Vì sao điều này sai với QP?

Xem lời giải thích

Vì đường mức của hàm toàn phương cong. Trong LP, đường mức là siêu phẳng, nên khi đẩy nó tới biên đa diện, chỗ chạm đầu tiên luôn chứa một đỉnh. Với QP, đường mức là ellipse, và một ellipse đang nở có thể chạm một cạnh tại điểm giữa cạnh, nơi cạnh là tiếp tuyến của ellipse. Nó còn có thể không chạm biên chút nào, nếu tâm ellipse đã nằm trong đa diện. Hệ quả thuật toán là phương pháp đơn hình, vốn chỉ đi qua các đỉnh, không dùng trực tiếp được cho QP. Các thuật toán cho QP như phương pháp tập chặt hay phương pháp điểm trong phải tính đến nghiệm nằm giữa cạnh hoặc bên trong.

Câu 2. Nếu P không , chẳng hạn cực tiểu −∥x∥22 trên hình hộp [−1,1]n, bài toán còn dễ không?

Xem lời giải thích

Bài toán này tương đương cực đại ∥x∥22 trên hình hộp. Mọi đỉnh (±1,…,±1) đều là nghiệm với giá trị n, nên ở ví dụ này ta biết nghiệm. Nhưng thay ∥x∥2 bằng một dạng toàn phương không xác định tổng quát, bài toán cực đại một trên đa diện nói chung chỉ giải được bằng cách so sánh rất nhiều đỉnh, và hình hộp n chiều có 2n đỉnh. Bài toán QP không lồi thuộc nhóm bài toán NP-khó, nên không có thuật toán nào được biết là giải nó nhanh trong mọi trường hợp. Điều kiện P⪰0 không phải chi tiết kỹ thuật, mà là ranh giới giữa dễ và khó.

Câu 3. Với A có các hàng (1,0.9), (0.9,1), (1,1.1) và b=(2.5, 0.2, 2.6), nghiệm bình phương tối thiểu không ràng buộc là khoảng (7.17, −5.13). Kẹp nó vào hình hộp [0,1]2 được (1,0). Đó có phải nghiệm của bài toán có ràng buộc hộp không?

Xem lời giải thích

Không. Điểm kẹp (1,0) cho tổng bình phương sai số khoảng 5.30, trong khi nghiệm đúng của QP có ràng buộc hộp là khoảng (1, 0.798) với giá trị khoảng 3.38. Phép kẹp chỉ đúng khi hàm mục tiêu tách được theo từng biến, tức ATA chéo. Ở đây hai cột của A gần cùng hướng, nên hai biến bù trừ cho nhau mạnh: Nghiệm không ràng buộc dùng một biến rất dương và một biến rất âm để triệt tiêu lẫn nhau. Khi một biến bị chặn, biến kia phải điều chỉnh lại theo, và phép kẹp từng thành phần bỏ qua sự điều chỉnh ấy. Muốn đúng, phải giải QP, hoặc ít nhất dùng phương pháp gradient có chiếu.

Câu 4. Trong mô phỏng, khoảng cách giữa hai đa giác thay đổi khi kéo P2. Vì sao khoảng cách, xem như hàm của vector tịnh tiến c của P2, là một ?

Xem lời giải thích

Khoảng cách giữa P1 và P2+c là inf{∥x1−x2−c∥2:x1∈P1, x2∈P2}. Hàm (x1,x2,c)↦∥x1−x2−c∥2 lồi đồng thời theo cả ba biến, và tập các (x1,x2) khả thi lồi. Cực tiểu hóa theo một phần biến giữ tính lồi, nên kết quả là theo c. Một cách nhìn khác: Khoảng cách ấy chính là khoảng cách từ c tới P1−P2, và khoảng cách tới một tập lồi là hàm lồi.

Câu 5. Vì sao cực đại phương sai là bài toán lồi, còn cực tiểu phương sai trên cùng tập phân phối thì sao?

Xem lời giải thích

Phương sai là hàm lõm theo p, nên cực đại nó là cực tiểu một , một bài toán lồi. Cực tiểu phương sai theo p là cực tiểu một hàm lõm, nói chung không lồi, và nghiệm nằm ở các đỉnh của đa diện phân phối. Điều này ngược với bài toán Markowitz, nơi phương sai xTΣx là hàm lồi theo tỉ lệ đầu tư x, nên cực tiểu nó là bài toán lồi. Cùng một chữ "phương sai", nhưng là hàm của những biến khác nhau, nên có tính lồi ngược nhau.

8. Bài tập tự luyện ​

Bài tập 1: QP trên hình vuông

Cực tiểu (x1−3)2+(x2+1)2 trên hình vuông [0,2]2. Nghiệm nằm ở đỉnh, giữa cạnh hay bên trong? Ràng buộc nào chặt?

Lời giải

Bài toán tìm điểm của hình vuông gần (3,−1) nhất, tức phép chiếu của (3,−1) lên hình vuông. Vì hàm mục tiêu tách được theo hai tọa độ, ta kẹp độc lập từng tọa độ: Biến x1=min{3,2}=2 và biến x2=max{−1,0}=0. Nghiệm là đỉnh (2,0) với giá trị 1+1=2. Hai ràng buộc x1≤2 và x2≥0 chặt. Ở đây phép kẹp hợp lệ, khác với Câu 3, vì P chéo.

Bài tập 2: Khoảng cách giữa hai hình hộp

Tính khoảng cách giữa hình vuông [0,1]2 và hình chữ nhật [3,4]×[2,5], và chỉ ra cặp điểm gần nhau nhất.

Lời giải

Theo trục x1, khoảng cách giữa hai đoạn [0,1] và [3,4] là 2, đạt khi x1 bằng 1 và 3. Theo trục x2, khoảng cách giữa [0,1] và [2,5] là 1, đạt khi x2 bằng 1 và 2. Vì cả hai tập là tích của các đoạn, bài toán tách theo từng trục, và khoảng cách là 22+12=5≈2.236, giữa hai điểm (1,1) và (3,2).

Bài tập 3: Danh mục hai tài sản

Với hai tài sản A, B như ở mục 6, chứng minh danh mục ít rủi ro nhất đặt 17 vốn vào A. Gợi ý: Viết phương sai như hàm một biến x1, với x2=1−x1.

Lời giải

hiệp phương sai có các phần tử σA2=0.0225, σB2=0.0025 và hiệp phương sai ρσAσB=−0.0015. Phương sai của danh mục là

v(x1)=0.0225x12−0.003x1(1−x1)+0.0025(1−x1)2.

Lấy đạo hàm và gom các số hạng, ta được v′(x1)=0.056x1−0.008, triệt tiêu tại x1=0.0080.056=17. Điểm này nằm trong [0,1], nên ràng buộc không âm không chặt, và đó là nghiệm.

Tóm tắt ​

Quy hoạch toàn phương cực tiểu một hàm toàn phương lồi, với P⪰0, trên một đa diện. Đường mức là ellipse, nên nghiệm có thể nằm bên trong, giữa một cạnh hoặc tại một đỉnh, và là duy nhất khi P≻0. QCQP cho phép cả ràng buộc toàn phương lồi, và các lớp lồng nhau: LP nằm trong QP, QP nằm trong QCQP. Không có điều kiện P⪰0, bài toán trở nên khó.

QP xuất hiện từ nhiều nguồn. Trong thống kê, đó là bình phương tối thiểu có ràng buộc, còn trong hình học, đó là khoảng cách giữa hai đa diện, kèm theo siêu phẳng tách của chúng. Xác suất cho bài toán phương sai lớn nhất trên một tập phân phối và LP có chi phí ngẫu nhiên. Tài chính cho danh mục Markowitz, nơi đa dạng hóa có thể làm rủi ro thấp hơn cả tài sản an toàn nhất.

Tài liệu tham khảo ​

  • Stephen Boyd, Lieven Vandenberghe, Convex Optimization, Cambridge University Press.
Toàn bộ chủ đề của Lecture 02

IV. Quy hoạch hình học

  1. Quy hoạch hình học
Về trang chương: bản đồ, Slides và Kiến thức nền
Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to