Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Chương 3 · Chủ đề 5

Tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Một tập quán có thể tiếp tục tồn tại sau khi điều kiện sinh ra nó đã thay đổi. Ngược lại, một tư tưởng mới có thể xuất hiện trước khi những điều kiện thực hiện nó trở nên đầy đủ. Quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần vì vậy không phải sự thay đổi đồng loạt, tức thời.

Tồn tại xã hội là gì? ​

Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Những yếu tố cơ bản gồm phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh địa lý, cùng dân cư và đặc điểm dân số. Phương thức sản xuất giữ vai trò cơ bản nhất.

Điều kiện tự nhiên cung cấp môi trường và những nguồn lực mà con người sử dụng. Dân cư liên quan đến lực lượng lao động, nhu cầu và cách phân bố cộng đồng. Tuy nhiên, cùng một điều kiện tự nhiên có thể được sử dụng rất khác nhau tùy công cụ, trình độ con người và cách tổ chức sản xuất.

Do đó, không thể giải thích lịch sử chỉ bằng khí hậu, tài nguyên hay số người. Những yếu tố ấy có tác động thực tế nhưng tác động thông qua hoạt động xã hội cụ thể. Xác định vai trò của phương thức sản xuất giúp nối các điều kiện tự nhiên với những quan hệ và năng lực của con người.

Tồn tại xã hội rộng hơn cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng tập trung vào những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế. Tồn tại xã hội còn bao gồm những điều kiện sinh hoạt vật chất khác. Phân biệt phạm vi giúp tránh dùng hai khái niệm như những tên gọi hoàn toàn tương đương.

Ý thức xã hội và ý thức cá nhân ​

Ý thức xã hội là phương diện tinh thần của đời sống xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh nó trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Nó gồm các tư tưởng, quan điểm, tình cảm, tâm trạng, truyền thống và những hình thức nhận thức chung của các cộng đồng.

Ý thức cá nhân là thế giới tinh thần của một người cụ thể. Cá nhân tiếp nhận ngôn ngữ, tri thức, giá trị và cách suy nghĩ từ xã hội, nhưng tiếp nhận qua hoàn cảnh, trải nghiệm và hoạt động riêng. Vì vậy, không phải mọi ý nghĩ của một người đều đại diện cho ý thức của cả cộng đồng.

Ý thức xã hội cũng không phải phép cộng cơ học các ý nghĩ cá nhân. Những quan niệm chung hình thành qua giao tiếp, giáo dục, lao động và những thiết chế lưu giữ, truyền bá tri thức. Cá nhân có thể tiếp nhận, phê phán hoặc sáng tạo tư tưởng rồi ảnh hưởng trở lại cộng đồng.

Trong một gia đình, những thế hệ có thể cùng coi trọng việc học nhưng hình dung khác nhau về một nghề đáng theo đuổi. Một người gắn sự ổn định với kinh nghiệm lao động mình từng trải qua. Người trẻ lại nhìn thấy những cơ hội từ cách tổ chức công việc mới. Quan niệm chung được mỗi cá nhân tiếp nhận qua một lịch sử sống riêng.

Vì vậy, một cuộc trao đổi khó đạt kết quả nếu chỉ quy người lớn thành bảo thủ hoặc người trẻ thành thiếu suy nghĩ. Những kinh nghiệm nào đang làm mỗi người tin vào lựa chọn của mình? Điều kiện hiện nay còn giống hoàn cảnh đã tạo nên niềm tin ấy đến đâu? Hỏi như vậy mở đường phân tích cơ sở của quan niệm, thay vì chỉ đối lập hai thế hệ.

Các cách phân chia kết cấu ý thức xã hội ​

Xét theo trình độ nhận thức, có ý thức thông thường và ý thức lý luận. Ý thức thông thường hình thành trực tiếp trong đời sống hằng ngày, chứa nhiều kinh nghiệm và quan niệm chưa được hệ thống hóa. Nó có thể rất phong phú nhưng chưa tự làm rõ những quan hệ bản chất của hiện tượng.

Ý thức lý luận khái quát và hệ thống hóa hiện thực bằng khái niệm, phạm trù và học thuyết. Nó có khả năng đi sâu vào những mối liên hệ mà quan sát riêng lẻ chưa thấy. Tuy nhiên, một hệ thống tư tưởng có hình thức chặt chẽ chưa vì thế chắc chắn phản ánh đúng hiện thực.

Xét theo cách hình thành và biểu hiện, cần phân biệt tâm lý xã hội với hệ tư tưởng. Tâm lý xã hội gồm tình cảm, tâm trạng, thói quen, nếp nghĩ và phong tục của cộng đồng. Nó gắn trực tiếp với những điều kiện sống và tác động mạnh đến cách con người phản ứng trước sự kiện.

Hệ tư tưởng là những quan điểm được khái quát, hệ thống hóa về đời sống xã hội, gắn với lập trường và lợi ích của những lực lượng xã hội nhất định. Nó có thể định hướng mục tiêu và hành động. Có hệ tư tưởng khoa học và có hệ tư tưởng phản ánh sai lệch hiện thực.

Hai cách phân chia có liên quan nhưng không trùng hoàn toàn. Tâm trạng của người lao động trước một thay đổi tổ chức khác với học thuyết giải thích quan hệ lao động. Tâm lý có thể tạo điều kiện hoặc gây khó khăn cho việc tiếp nhận tư tưởng, còn tư tưởng có thể điều chỉnh cách hiểu và tình cảm của cộng đồng.

Những hình thái chủ yếu của ý thức xã hội ​

Đời sống tinh thần có nhiều hình thái vì con người có nhiều cách nắm bắt hiện thực. Mỗi hình thái đặt ra những vấn đề và sử dụng phương thức biểu hiện riêng.

  • Ý thức chính trị phản ánh quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia và thái độ đối với quyền lực nhà nước.
  • Ý thức pháp quyền gồm những quan niệm về pháp luật, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và tính hợp pháp của hành vi.
  • Ý thức đạo đức thể hiện những quan niệm về thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm và những chuẩn mực ứng xử.
  • Ý thức thẩm mỹ phản ánh, đánh giá đời sống thông qua cảm nhận về cái đẹp và những hình tượng nghệ thuật.
  • Ý thức tôn giáo biểu hiện niềm tin và quan niệm về các lực lượng siêu nhiên, gắn với tình cảm và thực hành tôn giáo.
  • Ý thức khoa học nhận thức hiện thực bằng những tri thức được hệ thống hóa, những phương pháp và sự kiểm chứng tương ứng.
  • Ý thức triết học khái quát những vấn đề chung nhất về thế giới, con người và quan hệ giữa con người với thế giới.

Một vấn đề có thể được nhiều hình thái phản ánh. Chẳng hạn, việc giữ lời hứa có thể được xem xét về đạo đức, về quy định pháp luật hoặc trong tác phẩm nghệ thuật. Mỗi cách xem xét làm rõ một phương diện, không thể dùng một hình thái thay thế toàn bộ các hình thái còn lại.

Trong xã hội có giai cấp, địa vị và lợi ích khác nhau ảnh hưởng đến nội dung ý thức. Tính giai cấp biểu hiện rõ trong những hệ tư tưởng chính trị. Tuy nhiên, con người còn kế thừa tri thức, kinh nghiệm và giá trị chung của dân tộc, nhân loại. Không thể gán mọi nội dung tinh thần thành sở hữu biệt lập của một giai cấp.

Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội ​

Trong quan niệm duy vật lịch sử, đời sống vật chất là cơ sở hình thành và biến đổi đời sống tinh thần. Những vấn đề con người suy nghĩ, lợi ích họ theo đuổi và phương tiện truyền bá tư tưởng đều gắn với những điều kiện xã hội hiện thực.

Khi phương thức sản xuất và quan hệ xã hội thay đổi, những quan niệm tương ứng sớm hay muộn cũng thay đổi. Tuy nhiên, cần tìm những khâu trung gian của sự thay đổi ấy. Điều kiện kinh tế không trực tiếp viết ra nội dung của một tác phẩm nghệ thuật hay toàn bộ tư tưởng của một cá nhân.

Giả sử một khu nhà muốn phân loại rác. Việc đặt thùng riêng tạo phương tiện cần thiết, nhưng người dân còn phải biết phân loại, tin rằng công sức có ý nghĩa và hình thành nếp bỏ rác phù hợp. Nếu rác đã phân loại lại được thu gom lẫn, điều kiện tổ chức có thể làm suy yếu niềm tin và thói quen mới.

Ở chiều ngược lại, chỉ kêu gọi giữ gìn môi trường trong khi thiếu chỗ chứa và cách thu gom phù hợp sẽ để nguyên những trở ngại vật chất. Ví dụ cho thấy tư tưởng tác động qua hành vi, còn hành vi diễn ra trong những điều kiện cụ thể. Muốn biết sự thay đổi đang vướng ở đâu, cần xem đồng thời phương tiện, cách phối hợp và quan niệm của người tham gia.

Mô hình máy in tại Bảo tàng Gutenberg ở Mainz.
Hình 3.5: Mô hình máy in tại Bảo tàng Gutenberg ở Mainz.

Phương tiện in làm thay đổi điều kiện lưu giữ và truyền bá tư tưởng. Nhưng cùng một phương tiện có thể được dùng để phổ biến những quan điểm đối lập. Vì vậy, không thể suy trực tiếp từ công cụ truyền thông tới nội dung ý thức xã hội. Cần xét người sử dụng, quan hệ lợi ích, môi trường tiếp nhận và những truyền thống tư tưởng đã có.

Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội ​

Trước hết, một bộ phận ý thức xã hội có thể lạc hậu so với tồn tại xã hội. Thói quen có sức bền, sự nhận thức cần thời gian và những lợi ích gắn với quan niệm cũ có thể tiếp tục bảo vệ nó. Vì thế, thay đổi điều kiện vật chất chưa khiến mọi tập quán lập tức biến mất.

Chẳng hạn, khi một tổ chức đã có cách trao đổi thông tin thuận tiện hơn, nếp giữ thông tin trong từng nhóm nhỏ vẫn có thể tồn tại. Thói quen cũ được duy trì qua cách đánh giá, lợi ích và quan hệ giữa các thành viên. Muốn thay đổi cần tác động vào cả những điều kiện ấy.

Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước hiện thực. Tư tưởng khoa học nhận ra những mối liên hệ và xu hướng đang hình thành, từ đó dự báo những khả năng chưa hiện hữu đầy đủ. Khả năng dự báo dựa trên điều kiện và quy luật, khác với việc chỉ hình dung một tương lai theo mong muốn.

Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa. Thế hệ sau sử dụng ngôn ngữ, khái niệm, vấn đề và thành tựu tư tưởng do thế hệ trước để lại. Một tư tưởng không thể được giải thích đầy đủ chỉ bằng mức phát triển kinh tế tại thời điểm nó xuất hiện.

Thứ tư, các hình thái ý thức xã hội tác động qua lại. Quan niệm đạo đức có thể ảnh hưởng đến cách xây dựng và tiếp nhận pháp luật. Văn học có thể truyền đạt suy tư triết học, còn tri thức khoa học có thể làm thay đổi cách con người nhìn tự nhiên và đời sống.

Cuối cùng, ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội thông qua hoạt động thực tiễn. Một quan điểm được con người tiếp nhận có thể định hướng lựa chọn, cách tổ chức và hành động. Tư tưởng không tự biến thành kết quả vật chất nếu thiếu con người, phương tiện và những điều kiện thực hiện.

Một tập quán tồn tại lâu cũng chưa tự nói lên nó có giá trị hay cần loại bỏ. Nếp thăm hỏi người đau ốm có thể tiếp tục nuôi dưỡng sự quan tâm dù cách liên lạc đã thay đổi. Trái lại, một cách ứng xử ngăn một nhóm người tiếp cận việc học cần được xem xét từ tác dụng hiện thực của nó, dù đã được duy trì nhiều năm.

Ta đang giữ điều gì khi giữ một truyền thống: Một hình thức quen thuộc hay một giá trị mà hình thức ấy từng chuyên chở? Câu hỏi giúp phân biệt kế thừa với lặp lại nguyên trạng. Sự đổi mới đời sống tinh thần có thể vừa phê phán những quan niệm cản trở con người, vừa tìm hình thức mới để tiếp tục nuôi dưỡng những giá trị đáng trân trọng.

Ý nghĩa đối với giáo dục và thay đổi xã hội ​

Muốn đổi một tập quán, chỉ tuyên truyền chưa chắc đủ nếu điều kiện sống và cách tổ chức vẫn duy trì tập quán ấy. Muốn tạo điều kiện sống mới, cũng cần tri thức, niềm tin và khả năng phối hợp của con người. Thay đổi vật chất và phát triển tinh thần phải được đặt trong quan hệ.

Tính kế thừa còn đòi hỏi phân biệt giá trị cần giữ với những quan niệm cần phê phán. Cái cũ không đồng nghĩa lạc hậu, cũng như cái mới chưa tự bảo đảm tiến bộ. Giá trị của tư tưởng cần được xem xét qua nội dung, điều kiện lịch sử và tác dụng của nó đối với đời sống con người.

Tài liệu tham khảo ​

  1. Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 3, tr. 144–254.
  2. Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 3, phần Bài tập.
  3. dronepicr. Mô hình máy in tại Bảo tàng Gutenberg ở Mainz.. CC BY 2.0. Bản thu nhỏ.

Cập nhật lần cuối:

Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to