Giao diện
Ba cách nhìn về quá trình phát triển
Các sự vật biến đổi theo những quan hệ không phụ thuộc vào ý muốn của người quan sát. Quy luật là mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên và lặp lại trong những điều kiện xác định. Quy luật khách quan cần được phân biệt với cách con người diễn đạt nó trong một lý thuyết, bởi tri thức về quy luật còn có thể được bổ sung.
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật làm rõ cách thức, nguồn gốc và khuynh hướng của sự phát triển. Chúng có phạm vi khái quát rộng, nhưng không thay thế việc nghiên cứu quy luật cụ thể của vật lý, sinh học hay xã hội. Muốn vận dụng phải xác định đối tượng và những điều kiện thực của quá trình.
Chất, lượng và sự chuyển hóa
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại giải thích cách thức của sự phát triển. Trước hết, cần hiểu chất và lượng theo nghĩa triết học.
Chất là tính quy định khách quan vốn có, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó và phân biệt với cái khác. Chất không đồng nghĩa với đánh giá tốt hoặc xấu trong lời nói hằng ngày. Một trạng thái hay một tổ chức đều có chất xác định dù ta đánh giá nó thế nào.
Không phải mọi thuộc tính có vai trò như nhau đối với chất. Một thay đổi ở đặc điểm phụ có thể chưa làm đối tượng thành cái khác. Khi những thuộc tính và cách liên kết cơ bản thay đổi, chất có thể thay đổi. Một đối tượng cũng có thể được xem xét ở những chất khác nhau tùy quan hệ đang nghiên cứu.
Lượng là tính quy định về quy mô, số lượng, trình độ, nhịp độ và mức độ của sự vật. Lượng thường biểu hiện bằng con số, nhưng không phải mọi phương diện đều đo chính xác được ngay. Cả chất lẫn lượng đều thuộc đối tượng, còn cách xác định chúng phụ thuộc vấn đề nghiên cứu.
Chất và lượng thống nhất trong một khoảng giới hạn gọi là độ. Trong giới hạn ấy, lượng thay đổi nhưng chất cơ bản vẫn được giữ. Khi lượng biến đổi tới giới hạn khiến chất thay đổi, giới hạn đó là điểm nút. Sự chuyển hóa về chất gọi là bước nhảy.
Khi nung một vật liệu trong điều kiện xác định, nhiệt độ có thể thay đổi mà trạng thái vật lý cơ bản vẫn giữ. Đến điều kiện chuyển pha, cấu trúc và trạng thái thay đổi. Ví dụ chỉ có ý nghĩa khi gắn với loại vật liệu và điều kiện tác động. Không thể lấy một ngưỡng của trường hợp này áp đặt cho mọi trường hợp khác.
Trong quá trình học, việc tích lũy tri thức và thực hành có thể tạo điều kiện cho chuyển biến về năng lực. Nhưng không có một số giờ cố định bảo đảm mọi người đạt cùng một chất mới. Chất lượng hoạt động, cách liên kết kiến thức và điều kiện học đều phải được xét. Không nên biến ví dụ xã hội thành bản sao cơ học của hiện tượng vật lý.

Ở áp suất xác định, việc đun nóng dần đưa nước tới điều kiện sôi. Tại đó, sự hóa hơi diễn ra trong toàn khối chất lỏng, biểu hiện qua những bọt hơi đi lên. Trong lúc sôi, nhiệt được cung cấp vẫn tiếp tục tham gia vào sự chuyển pha dù nhiệt độ nước không tăng như trước. Để hiểu quá trình, ta cần xét sự thay đổi trạng thái, thay vì chỉ theo dõi một con số nhiệt độ.
Bước nhảy và tác động trở lại của chất mới
Bước nhảy là sự gián đoạn về chất trong quá trình biến đổi liên tục, nhưng không nhất thiết diễn ra tức khắc hoặc dữ dội. Có bước nhảy đột biến, có bước nhảy dần dần. Có bước nhảy toàn bộ, có bước nhảy cục bộ. Việc phân loại tùy nhịp độ, quy mô và cấu trúc của quá trình đang xét.
Sau khi xuất hiện, chất mới tác động trở lại lượng. Cách tổ chức mới có thể mở rộng quy mô hoạt động, thay đổi nhịp độ hoặc giới hạn phát triển. Chẳng hạn, khi một nhóm lao động chuyển từ làm việc rời rạc sang phân công và phối hợp, cùng những thành viên ấy có thể đạt hiệu quả khác. Chất mới tạo một khuôn khổ vận động mới cho lượng.
Quy luật vì vậy không dừng ở câu “tích lũy nhiều sẽ thay đổi”. Nội dung đầy đủ là những thay đổi về lượng, trong điều kiện xác định, dẫn đến thay đổi về chất qua bước nhảy. Chất mới lại quy định những biến đổi về lượng tương ứng.
Về phương pháp, cần kiên trì tích lũy điều kiện và đồng thời nhận ra thời điểm chuyển đổi. Nôn nóng là đòi thực hiện bước nhảy khi điều kiện chưa đủ. Bảo thủ là tiếp tục duy trì cách cũ khi những điều kiện cần thiết đã chín muồi. Quyết định đúng đòi hỏi khảo sát cả lượng đang tích lũy lẫn chất cần hình thành.
Khi nhóm bạn chuyển sang làm một công việc chung
Giả sử những người vốn tự chuẩn bị đồ dùng cho mình nay cùng làm sản phẩm để bán tại một hội chợ. Ban đầu họ có thể nghĩ chỉ cần mỗi người làm nhiều hơn. Nhưng khi số việc tăng, những khâu phụ thuộc nhau bắt đầu xuất hiện. Người hoàn thiện sản phẩm phải chờ người chuẩn bị vật liệu, còn người giao hàng cần biết sản phẩm nào đã sẵn sàng.
Đến lúc cách làm rời rạc không còn đáp ứng yêu cầu, nhóm phải phân công, thống nhất quy trình và kiểm tra chất lượng chung. Sự thay đổi không chỉ là thêm người hoặc thêm sản phẩm. Quan hệ tổ chức đã đổi, tạo một chất mới của hoạt động phối hợp. Chất mới ấy lại cho phép hoặc đòi hỏi một quy mô và nhịp độ công việc khác.
Không có con số thành viên nào áp dụng chung cho mọi nhóm để xác định điểm chuyển đổi. Công việc đơn giản, ít phụ thuộc có giới hạn khác với công việc cần phối hợp liên tục. Nói đến điểm nút trong một quá trình xã hội vì thế đòi hỏi tìm các dấu hiệu cụ thể, không lấy một ngưỡng thuận tiện để thay cho phân tích.
Một nhóm đã đủ điều kiện đổi cách làm nhưng vẫn tiếp tục tăng việc theo lối cũ sẽ gặp giới hạn khác với nhóm chưa chuẩn bị gì đã vội dựng một bộ máy phức tạp. Hai trường hợp cho thấy cả trì hoãn bước chuyển lẫn nôn nóng đều có thể làm hoạt động kém đi.
Mặt đối lập và mâu thuẫn biện chứng
Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng vận động trái ngược nhau trong một chỉnh thể. Mâu thuẫn biện chứng là mối liên hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. “Mâu thuẫn” ở đây không chỉ là cãi nhau hoặc hai câu nói không nhất quán.
Muốn nhận diện mâu thuẫn, phải chỉ ra hai mặt thuộc quá trình nào, chúng cần nhau ra sao và có xu hướng loại trừ nhau ở điểm nào. Chỉ gọi tên hai thứ khác nhau chưa đủ. Sự thống nhất thể hiện ở chỗ các mặt liên hệ, làm điều kiện cho nhau trong chỉnh thể. Đấu tranh thể hiện ở xu hướng tác động, bài trừ hoặc phủ định nhau.
Trong cơ thể sống, đồng hóa tạo và tích lũy các chất, còn dị hóa phân giải các chất. Hai quá trình có khuynh hướng đối lập nhưng cùng thuộc hoạt động trao đổi chất. Không thể duy trì sự sống bằng cách tuyệt đối giữ một quá trình và loại bỏ hoàn toàn quá trình kia. Ví dụ này cho thấy đấu tranh giữa các mặt đối lập không đồng nghĩa với tiêu diệt bằng bạo lực.
Sự thống nhất là tương đối, gắn với điều kiện và trạng thái xác định. Sự đấu tranh được gọi là tuyệt đối vì gắn với vận động không ngừng, làm thay đổi quan hệ giữa các mặt. “Tuyệt đối” không có nghĩa mọi quan hệ lúc nào cũng xung đột gay gắt hoặc bộc lộ đối lập trực tiếp. Khi mâu thuẫn được giải quyết qua sự chuyển hóa, trạng thái cũ mất đi và trạng thái mới hình thành, đồng thời những mâu thuẫn mới xuất hiện.
Phân biệt vai trò và tính chất của mâu thuẫn
Một sự vật thường có nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn cơ bản gắn với bản chất và chi phối quá trình tồn tại của sự vật. Mâu thuẫn không cơ bản ảnh hưởng những mặt hoặc giai đoạn nhất định. Trong một giai đoạn, mâu thuẫn chủ yếu nổi lên chi phối các mâu thuẫn khác, còn những mâu thuẫn còn lại giữ vai trò thứ yếu.
Phân biệt cơ bản với chủ yếu giúp tránh đánh đồng hai cách xét. Cơ bản nói về vai trò đối với bản chất và toàn bộ quá trình. Chủ yếu nói về vị trí nổi bật trong một giai đoạn cụ thể. Vai trò chủ yếu có thể thay đổi khi hoàn cảnh và nhiệm vụ thay đổi.
Mâu thuẫn bên trong là quan hệ giữa những mặt của chính sự vật. Mâu thuẫn bên ngoài là quan hệ giữa sự vật với những sự vật khác. Hai loại liên hệ chặt chẽ. Tác động bên ngoài ảnh hưởng quá trình thông qua những điều kiện và quan hệ bên trong, vì vậy cùng một tác động có thể tạo kết quả khác nhau ở các đối tượng.
Trong xã hội còn cần phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng theo quan hệ lợi ích cơ bản của các lực lượng liên quan. Sự phân biệt này có ý nghĩa đối với cách giải quyết. Không thể coi mọi bất đồng trong đời sống xã hội đều có cùng bản chất và đòi hỏi cùng một phương thức xử lý.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc, động lực bên trong của vận động và phát triển. Về phương pháp, cần phân tích mâu thuẫn khách quan, xác định mâu thuẫn chủ yếu và điều kiện giải quyết. Giải quyết không phải phủ nhận rằng vấn đề tồn tại, cũng không phải tùy tiện ghép hai khuynh hướng trái ngược vào một trạng thái thỏa hiệp bất biến.
Phủ định biện chứng và sự kế thừa
Phủ định là sự thay thế một trạng thái hoặc sự vật bằng trạng thái hoặc sự vật khác. Không phải mọi phủ định đều là phủ định biện chứng. Một tác động phá hủy có thể chấm dứt sự vật mà không tạo ra quá trình phát triển của chính nó.
Phủ định biện chứng là sự phủ định do những mâu thuẫn và quá trình phát triển của sự vật tạo nên, đồng thời làm tiền đề cho sự phát triển tiếp theo. Hai đặc trưng cơ bản của nó là tính khách quan và tính kế thừa. Tính khách quan nghĩa là sự thay thế có cơ sở trong quá trình hiện thực, không chỉ do ý muốn phủ nhận của người quan sát.
Tính kế thừa nghĩa là cái mới không xóa bỏ sạch trơn mọi yếu tố của cái cũ. Những yếu tố phù hợp được giữ lại, cải biến và đưa vào những quan hệ mới. Kế thừa vì thế khác với giữ nguyên. Một nội dung được bảo tồn có thể thay đổi vị trí và chức năng khi thuộc một chỉnh thể mới.
Trong sự phát triển của khoa học, lý thuyết mới có thể chỉ ra giới hạn của lý thuyết cũ, đồng thời giữ những kết quả còn đúng trong phạm vi xác định. Tri thức phát triển bằng cả vượt qua lẫn tiếp nối. Nếu chỉ nhìn thấy sự bác bỏ, ta bỏ mất phần tích lũy. Nếu chỉ nhìn thấy tiếp nối, ta bỏ mất sự thay đổi về chất.
Những trang ghi chép được viết lại
Một người bắt đầu học bằng cách chép gần như toàn bộ lời giảng. Khi nhận ra cách ấy khó dùng để ôn lại, họ chuyển sang chỉ ghi những từ khóa. Sau một thời gian, bản ghi quá ngắn lại khiến họ không khôi phục được lập luận. Họ dần tìm cách giữ khái niệm, quan hệ và ví dụ trong một cấu trúc do mình hiểu.
Không phải cứ có ba cách ghi nối tiếp là đã chứng minh quy luật phủ định của phủ định. Cần chỉ ra điều gì ở cách cũ không còn đáp ứng nhiệm vụ, điều gì được bỏ, điều gì được giữ và năng lực mới thực sự hình thành ra sao. Nếu bản ghi cuối chỉ quay lại chép nguyên lời giảng thì việc đổi tên phương pháp chưa tạo ra phát triển.
Khi sự thay đổi có cơ sở, kỹ năng nghe và lưu giữ chi tiết của giai đoạn đầu vẫn được sử dụng, nhưng được tổ chức bằng khả năng lựa chọn và khái quát đã phát triển. Cái cũ không còn nguyên vẹn, cũng không biến mất sạch trơn. Sự trở lại của một vài đặc điểm cũ trong cấu trúc mới làm hình ảnh xoáy ốc có ý nghĩa.
Đến đây, giữ lại một thói quen có nhất thiết là bảo thủ, còn bỏ nó có nhất thiết là tiến bộ không? Câu trả lời phụ thuộc vào chức năng nó còn thực hiện được và những điều kiện đã thay đổi. Chính cách xem xét ấy phân biệt kế thừa có suy xét với việc luôn bênh cái cũ hoặc luôn chuộng cái mới.
Phủ định của phủ định và hình ảnh đường xoáy ốc
Cái mới sau khi hình thành tiếp tục vận động và có thể bị vượt qua bởi cái mới tiếp theo. Qua những lần phủ định có tính kế thừa, quá trình có thể xuất hiện sự lặp lại một số đặc điểm của giai đoạn đầu trên một cơ sở cao hơn. Đây là nội dung cần hiểu của quy luật phủ định của phủ định.
Hình ảnh đường xoáy ốc diễn tả sự kết hợp giữa tính tiếp nối, tính lặp lại và sự tiến lên. Nó không phải đường tròn quay về nguyên trạng. Cũng không phải đường thẳng không có quanh co. Những yếu tố tưởng như trở lại đã nằm trong cấu trúc và điều kiện mới.
Không được biến quy luật thành phép đếm máy móc rằng cứ hai lần thay thế là chắc chắn có phát triển. Một chu kỳ cụ thể có thể chứa nhiều khâu và nhiều lần phủ định. Muốn chứng minh có phát triển phải phân tích chất mới, sự kế thừa và trình độ tổ chức thực sự đạt được.
Về phương pháp, cần ủng hộ cái mới có căn cứ hiện thực và biết kế thừa có chọn lọc. Bảo thủ giữ nguyên cái cũ cản trở sự đổi mới. Phủ định sạch trơn lại phá bỏ cả những thành quả còn giá trị. Khuynh hướng đi lên cần được nhận diện trong toàn bộ quá trình, kể cả những bước lùi và thất bại cục bộ.
Ba quy luật gắn bó trong cùng quá trình phát triển. Mâu thuẫn giải thích động lực, quan hệ lượng và chất làm rõ cách chuyển đổi, còn phủ định của phủ định làm rõ sự tiếp nối và khuynh hướng. Việc kết hợp chúng giúp tránh dùng một khẩu quyết duy nhất để giải thích mọi biến đổi.
Những quy luật khái quát này định hướng việc nghiên cứu, không cung cấp sẵn lịch trình hoặc kết quả của từng quá trình cụ thể. Muốn có tri thức đúng về đối tượng, con người phải khảo sát, suy luận và kiểm tra bằng thực tiễn. Vấn đề ấy dẫn sang lý luận nhận thức.
Tài liệu tham khảo
- Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 2, tr. 61–143.
- Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 2, phần Bài tập.
- Tomwsulcer. Nước được đun sôi trong một dụng cụ đun.. CC0. Bản thu nhỏ.