Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Chương 3 · Chủ đề 1

Sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Một trường học cần thầy cô, tri thức và mục tiêu giáo dục. Nhưng trường cũng cần lương thực, điện, phòng học, thiết bị và những người tạo ra các điều kiện ấy. Từ quan hệ đơn giản này, chủ nghĩa duy vật lịch sử đặt câu hỏi về nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội.

Sản xuất và tái sản xuất đời sống xã hội ​

Con người không chỉ sử dụng những gì tự nhiên có sẵn. Họ chế tạo công cụ, cải biến vật liệu và tổ chức lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên để tạo ra của cải đáp ứng nhu cầu sống và phát triển.

Đời sống xã hội còn bao gồm sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người. Sản xuất tinh thần tạo nên tri thức, tác phẩm nghệ thuật, quan niệm và những giá trị tinh thần khác. Sản xuất ra bản thân con người bao gồm sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển các thế hệ.

Các phương diện ấy gắn bó với nhau. Con người cần sống để sáng tạo, nhưng tri thức và giáo dục cũng giúp họ cải tiến sản xuất. Gọi sản xuất vật chất là cơ sở có nghĩa nó tạo ra những điều kiện tồn tại mà các hoạt động khác không thể thiếu.

Vai trò nền tảng còn thể hiện ở việc lao động buộc con người hợp tác, phân công và trao đổi. Trong những quan hệ ấy, ngôn ngữ, tư duy và các quy tắc ứng xử được hình thành, phát triển. Con người vừa tạo ra sản phẩm, vừa phát triển năng lực và quan hệ xã hội của chính mình.

Luận điểm này không có nghĩa mọi tư tưởng đều chỉ là biểu hiện trực tiếp của lợi ích kinh tế. Chính trị, văn hóa, khoa học và đạo đức có cách vận động riêng, đồng thời tác động trở lại sản xuất. Muốn giải thích xã hội, cần tìm nền tảng vật chất nhưng vẫn phải phân tích những sự tác động qua lại đó.

Trong một bữa cơm gia đình, có thể nhận ra sự đan xen ấy. Gạo được gieo trồng, vận chuyển rồi chế biến. Việc chăm sóc và dạy trẻ ăn uống lại góp phần nuôi dưỡng một thế hệ mới. Một câu chuyện được kể quanh mâm cơm có thể truyền lại ký ức và cách ứng xử. Các hoạt động không vì cùng diễn ra ở một nơi mà mất đi sự khác nhau về vai trò.

Nếu chỉ tính những gì bán được thành tiền, công việc chăm sóc ấy sẽ được nhìn nhận ra sao? Câu hỏi nhắc ta phân biệt vai trò xã hội của một hoạt động với hình thức trả công cho nó. Khẳng định cơ sở vật chất của đời sống cần đi cùng việc nhận ra những công việc đang duy trì chính con người làm ra của cải.

Phương thức sản xuất có hai mặt ​

Cùng làm ra vải nhưng một hộ dệt thủ công và một nhà máy sử dụng dây chuyền có cách sản xuất khác nhau. Sự khác nhau liên quan cả công cụ, tay nghề lẫn cách con người hợp tác và hưởng thành quả. Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện sản xuất vật chất trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Phương thức sản xuất thống nhất hai mặt. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong việc cải biến tự nhiên. Quan hệ sản xuất thể hiện những quan hệ kinh tế giữa người với người trong công việc ấy. Không có sản xuất hiện thực chỉ gồm máy móc mà không có quan hệ giữa những người sử dụng chúng.

Lực lượng sản xuất và vai trò của người lao động ​

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, tạo thành năng lực sản xuất của xã hội. Người lao động tham gia với sức lực, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng và khả năng sáng tạo. Vì thế, không thể đánh giá lực lượng sản xuất chỉ bằng số lượng máy móc.

Tư liệu sản xuất gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động. Đối tượng lao động là phần tự nhiên hoặc vật liệu mà lao động tác động vào, chẳng hạn đất canh tác hay gỗ dùng đóng bàn. Tư liệu lao động là những phương tiện con người sử dụng để tác động vào đối tượng ấy.

Trong tư liệu lao động, công cụ lao động trực tiếp truyền tác động của con người đến đối tượng. Máy cưa là công cụ, còn nhà xưởng và hệ thống vận chuyển hỗ trợ quá trình sử dụng công cụ. Phân biệt này giúp xác định mỗi yếu tố tham gia quá trình sản xuất bằng cách nào.

Người lao động giữ vai trò hàng đầu vì con người sáng tạo, lựa chọn, sử dụng và cải tiến công cụ. Công cụ là yếu tố vật chất có tính năng động, phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên. Một thiết bị hiện đại chưa tự tạo thành năng lực sản xuất cao nếu thiếu người vận hành, bảo trì và tổ chức sử dụng phù hợp.

Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở công cụ, kỹ năng lao động, ứng dụng khoa học, phân công và tổ chức lao động xã hội. Tính chất của lực lượng sản xuất cho biết hoạt động ấy mang tính cá nhân hay được xã hội hóa đến mức nào. Sản xuất có thể liên kết nhiều người, nhiều đơn vị cùng làm ra một sản phẩm.

Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi tri thức được đưa vào chính quá trình sản xuất. Tri thức có thể kết tinh trong máy móc, quy trình, vật liệu và năng lực người lao động. Điều đó không biến khoa học thành một thực thể tự hoạt động ngoài con người và những điều kiện vật chất.

Một công nhân vận hành máy dệt tại Ipswich, Australia, năm 1940.
Hình 3.1: Một công nhân vận hành máy dệt tại Ipswich, Australia, năm 1940.

Có thể nhìn thấy máy và người vận hành trong cùng một khuôn hình. Nhưng một bức ảnh chưa cho biết ai sở hữu máy, ai tổ chức công việc và sản phẩm được phân chia thế nào. Những câu hỏi ấy giúp phân biệt năng lực sản xuất với quan hệ sản xuất. Cùng một loại thiết bị có thể được sử dụng trong những cách tổ chức xã hội khác nhau.

Quan hệ sản xuất gồm những quan hệ nào? ​

Quan hệ sản xuất là tổng hợp những quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Nó có ba mặt liên hệ với nhau.

  • Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất xác định ai nắm giữ, sử dụng và định đoạt những điều kiện vật chất chủ yếu của sản xuất.
  • Quan hệ tổ chức, quản lý xác định cách phân công, điều hành và phối hợp hoạt động giữa những người tham gia.
  • Quan hệ phân phối xác định cách thức và quy mô hưởng sản phẩm, thu nhập hay thành quả lao động.

Quan hệ sở hữu giữ vai trò cơ bản vì quyền đối với tư liệu sản xuất tạo cơ sở chi phối việc quản lý và phân phối. Tuy nhiên, hai mặt còn lại vẫn có tác động thực tế. Cùng điều kiện sở hữu, cách tổ chức bất hợp lý có thể gây lãng phí, còn phân phối không phù hợp có thể làm suy giảm động lực lao động.

Sở hữu tư liệu sản xuất và cách tổ chức lao động cần được phân biệt ​

Quan hệ sản xuất không chỉ là việc nhiều người có mặt trong cùng một nơi làm việc. Nó nói đến những quan hệ kinh tế quy định họ tham gia quá trình sản xuất bằng cách nào, ai có quyền quyết định và thành quả được phân chia ra sao. Cùng một động tác kỹ thuật có thể được thực hiện trong những quan hệ sản xuất khác nhau.

Chẳng hạn, người thợ sử dụng máy móc cần có kỹ năng vận hành. Xét về lực lượng sản xuất, kỹ năng ấy kết hợp với công cụ để tạo năng lực sản xuất. Nhưng khi xét người thợ là chủ sở hữu hay người làm thuê, ai quyết định tổ chức công việc và cách hưởng sản phẩm, ta đang phân tích quan hệ sản xuất.

Cách tổ chức lao động có mặt kỹ thuật và mặt xã hội gắn bó. Việc sắp xếp công đoạn cần đáp ứng yêu cầu của thiết bị và vật liệu. Đồng thời, quyền điều hành, trách nhiệm và quan hệ giữa những người tham gia lại thuộc mặt quan hệ kinh tế. Không thể tách hai mặt thành những hoạt động hoàn toàn không liên quan.

Đổi mới công nghệ vì thế có thể đặt ra yêu cầu tổ chức và đào tạo mới, nhưng chưa tự chứng minh quan hệ sở hữu đã biến đổi. Ngược lại, thay đổi quyền sở hữu chưa tự tạo ra công cụ tốt hơn hay kỹ năng cao hơn. Muốn đánh giá sự phù hợp, cần theo dõi những thay đổi thực ở cả năng lực sản xuất lẫn quan hệ giữa người với người.

Sự phân biệt này giúp hiểu vai trò của người lao động đầy đủ hơn. Con người là chủ thể sử dụng và cải tiến công cụ, đồng thời tham gia những quan hệ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích. Phát huy năng lực của họ đòi hỏi quan tâm đến cả điều kiện kỹ thuật, trình độ và những quan hệ xã hội trong sản xuất.

Giả sử một tiệm bánh mua lò nướng tự động. Máy mới có thể điều chỉnh nhiệt tốt hơn, nhưng người làm vẫn cần hiểu nguyên liệu, phát hiện sai lệch và phối hợp các công đoạn. Nếu chưa ai được hướng dẫn, lò hiện đại chưa bảo đảm bánh tốt hơn. Ở đây, năng lực sản xuất nằm trong sự kết hợp giữa phương tiện và người sử dụng, chứ không nằm nguyên vẹn trong chiếc máy.

Cũng tại tiệm ấy, hãy xét ba việc khác nhau. Ai có quyền quyết định bán lò hoặc thế chấp tài sản? Ai phân ca và tổ chức công việc? Tiền thu được sẽ được chia như thế nào? Những câu hỏi đưa ta lần lượt đến sở hữu, tổ chức và phân phối. Người được giao phân ca chưa chắc là chủ sở hữu. Tăng công suất máy cũng chưa tự quyết định phần thu nhập của mỗi người.

Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ​

Lực lượng sản xuất phát triển thông qua nhu cầu mới, cải tiến công cụ và sự tích lũy năng lực của con người. Quan hệ sản xuất tương đối ổn định vì gắn với cách tổ chức, lợi ích và quyền hạn đã được xác lập. Vì vậy, quan hệ từng tạo điều kiện cho sản xuất có thể trở thành trở lực khi năng lực sản xuất thay đổi.

Trong cách giải thích của chủ nghĩa duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Nghĩa là trình độ sản xuất đặt ra yêu cầu khách quan đối với hình thức tổ chức xã hội của nó. Quan hệ sản xuất tác động trở lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm việc sử dụng và phát triển năng lực ấy.

Sự phù hợp không phải trạng thái mọi khác biệt đều biến mất. Đó là sự kết hợp cho phép các yếu tố sản xuất phát huy tác dụng và tiếp tục phát triển. Quan hệ sản xuất đi sau yêu cầu thực tế có thể gây cản trở. Việc áp đặt quan hệ chưa có điều kiện thực hiện cũng không tạo ra sự phù hợp.

Xét một cơ sở chế tạo chuyển từ làm sản phẩm riêng lẻ sang dây chuyền có nhiều công đoạn phụ thuộc nhau. Nếu mỗi bộ phận chỉ theo đuổi sản lượng riêng mà không phối hợp, công đoạn sau có thể thiếu vật liệu hoặc nhận sản phẩm không dùng được. Công cụ mới đặt ra yêu cầu thay đổi cách tổ chức và đánh giá kết quả.

Ví dụ này minh họa sự tác động giữa năng lực kỹ thuật và quan hệ tổ chức. Nó không đủ để suy ra chỉ một thay đổi quản lý sẽ làm biến đổi toàn bộ phương thức sản xuất. Những biến đổi xã hội lớn còn liên quan đến sở hữu, lợi ích và các thiết chế bảo vệ những quan hệ ấy.

Một nhóm hộ trồng rau dùng chung hệ thống tưới còn cho thấy vấn đề phối hợp. Khi việc tưới của mỗi ruộng ảnh hưởng đến áp lực nước của những ruộng khác, quyền tự quyết hoàn toàn riêng rẽ có thể gây xung đột. Nhóm cần thống nhất lịch vận hành, trách nhiệm bảo dưỡng và cách góp chi phí. Nhu cầu tổ chức nảy sinh từ chính mức độ phụ thuộc kỹ thuật của công việc.

Nhưng nếu chỉ lập một quy chế chung mà không sửa đường ống hỏng, rau vẫn thiếu nước. Ngược lại, có đường ống tốt mà không ai nhận trách nhiệm vận hành cũng chưa tạo được năng suất. Khi một kế hoạch phát triển gặp trở ngại, điều đang thiếu là phương tiện, kỹ năng hay quan hệ phối hợp? Tách được câu hỏi ấy giúp việc điều chỉnh có căn cứ hơn.

Ý nghĩa khi xem xét sự phát triển ​

Muốn phát triển sản xuất, cần đồng thời bồi dưỡng con người, cải tiến công cụ và tạo điều kiện tổ chức phù hợp. Không thể chỉ thay tên hình thức sở hữu rồi cho rằng năng suất tự tăng. Cũng không thể chỉ mua máy móc mà bỏ qua quyền lợi, động lực và khả năng phối hợp của người lao động.

Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất giải thích vì sao đổi mới kinh tế luôn có mặt kỹ thuật và mặt xã hội. Từ đó, vấn đề tiếp theo là những quan hệ kinh tế ấy gắn với nhà nước, pháp luật và đời sống tư tưởng như thế nào.

Tài liệu tham khảo ​

  1. Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 3, tr. 144–254.
  2. Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 3, phần Bài tập.
  3. State Library of Queensland. Một công nhân vận hành máy dệt tại Ipswich, Australia, năm 1940.. Phạm vi công cộng. Bản thu nhỏ.

Cập nhật lần cuối:

Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to