Giao diện
Từ những vật cụ thể đến phạm trù vật chất
Một hòn đá, ánh sáng và hoạt động sản xuất rất khác nhau, nhưng đều thuộc hiện thực mà con người phải tìm hiểu. Triết học cần một khái niệm đủ rộng để nói về cơ sở tồn tại của thế giới, thay vì chỉ mô tả từng vật thể. Đó là lý do hình thành phạm trù vật chất.
Trong chủ nghĩa duy vật cổ đại, việc giải thích tự nhiên bằng chính tự nhiên là một bước chuyển quan trọng. Talét (Thales) tìm khởi nguyên ở nước, còn Hêraclít (Heraclitus) nhấn mạnh lửa. Thuyết nguyên tử của Lơxíp (Leucippus) và Đêmôcrít (Democritus) giải thích sự đa dạng bằng các nguyên tử và cách kết hợp của chúng. Những quan niệm ấy vượt khỏi cách kể về sự sáng tạo thần linh. Tuy nhiên, chúng vẫn đồng nhất vật chất nói chung với một dạng vật chất hoặc một mô hình cấu tạo cụ thể.
Đến thời cận đại, sự phát triển của thực nghiệm và cơ học giúp củng cố cách giải thích duy vật. Nhưng thành công của cơ học cũng dẫn đến khuynh hướng lấy chuyển động cơ học làm khuôn mẫu cho mọi quá trình. Vật chất bị đồng nhất với khối lượng, với những hạt được coi là nhỏ nhất và bất biến. Hạn chế nằm ở chỗ biến một trình độ hiểu biết lịch sử thành giới hạn cuối cùng của thế giới.
Các phát hiện vật lý đặt lại vấn đề như thế nào
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, việc phát hiện tia X, hiện tượng phóng xạ và electron làm thay đổi sâu sắc hình dung về nguyên tử. Những gì từng được coi là đơn giản, bền vững và không thể phân chia lại có cấu trúc và có thể biến đổi. Các mô hình vật lý cũ bộc lộ giới hạn áp dụng.
Từ đây xuất hiện một suy luận sai lầm: Nếu nguyên tử không còn là nền tảng bất biến thì vật chất đã biến mất. Lênin phân biệt sự thay đổi của tri thức về vật chất với sự tồn tại của thế giới vật chất. Một mô hình bị vượt qua chỉ chứng tỏ hiểu biết trước đó chưa đầy đủ. Nó không chứng tỏ đối tượng khách quan đã trở thành sản phẩm của cảm giác.
Sự phân biệt này giúp hiểu ý nghĩa của cuộc khủng hoảng trong thế giới quan của một bộ phận giới nghiên cứu. Vấn đề không chỉ là thay một công thức vật lý, mà còn là xác định có nên đồng nhất thực tại với mô hình hiện có hay không.
Hiểu định nghĩa vật chất của Lênin
Lênin xác định vật chất là phạm trù triết học chỉ thực tại khách quan, được con người nhận biết thông qua cảm giác và tồn tại độc lập với cảm giác. Định nghĩa này cần được hiểu qua ba điểm liên hệ với nhau.
Trước hết, tiêu chuẩn cơ bản là tồn tại khách quan. Một đối tượng không chờ ta biết đến mới tồn tại. Sự tồn tại của nó cũng không phụ thuộc vào việc ta muốn thừa nhận hay phủ nhận. Vật chất vì thế không chỉ là những gì nhìn thấy hoặc cầm nắm trực tiếp.
Tiếp đó, cảm giác là con đường để con người tiếp cận thực tại, không phải nguyên nhân tạo ra thực tại. Có đối tượng được nhận biết trực tiếp, có đối tượng chỉ được nhận biết qua thiết bị và các tác động của chúng. Không nhìn thấy trực tiếp không đồng nghĩa với không tồn tại.
Cuối cùng, việc khẳng định thực tại có thể được phản ánh đặt cơ sở cho khả năng nhận thức thế giới. Điều này không có nghĩa mọi cảm giác đều chính xác hoặc mọi vấn đề đã được giải quyết. Nhận thức vẫn phải được kiểm tra và phát triển bằng thực tiễn.
Định nghĩa không mô tả vật chất được cấu tạo từ hạt nào. Việc đó thuộc những khoa học cụ thể. Nó nêu tiêu chuẩn triết học để phân biệt cái tồn tại độc lập với ý thức và hình ảnh của cái ấy trong ý thức. Nhờ vậy, việc khám phá thêm cấu trúc vật chất không làm định nghĩa phụ thuộc vào một mô hình vật lý duy nhất.
Phạm trù vật chất và những dạng tồn tại cụ thể
Một vật thể là một dạng tồn tại xác định, có cấu tạo, thuộc tính và quá trình biến đổi của nó. Phạm trù vật chất khái quát thuộc tính chung là tồn tại khách quan. Bởi vậy, tìm ra một vật thể mới và xác định nội dung một phạm trù triết học là những công việc khác nhau nhưng có liên hệ.
Hòn đá có thể vỡ, một hợp chất có thể biến đổi, còn mô hình về cấu trúc nguyên tử có thể được thay thế. Trong các trường hợp ấy, cái mất đi có thể là một trạng thái hoặc một cách giải thích. Không thể từ sự biến đổi của dạng cụ thể suy ra thuộc tính tồn tại khách quan của hiện thực cũng mất đi.
Vật chất còn rộng hơn những vật thể có hình dạng và ranh giới dễ quan sát. Một quá trình, một quan hệ vật chất hoặc một tác động có thể không giống hình dung thông thường về đồ vật. Tiêu chuẩn triết học không phải mức độ dễ cầm nắm, mà là sự tồn tại không do ý thức cá nhân tạo ra.
Điều đó đặc biệt cần thiết khi chuyển sang đời sống xã hội. Hoạt động sản xuất và những quan hệ vật chất giữa người với người có tính khách quan dù không giống một khối vật thể. Những quan hệ ấy được hình thành thông qua hoạt động con người, nhưng không thể bị một cá nhân xóa bỏ chỉ bằng cách không thừa nhận chúng.
Ngược lại, một ý nghĩ có thật trong đời sống tinh thần không vì thế trở thành vật chất theo cùng nghĩa. Cần phân biệt sự tồn tại của một nội dung ý thức với cơ sở vật chất của hoạt động ý thức ấy. Bộ não và phương tiện biểu đạt thuộc hiện thực vật chất, còn ý nghĩa được suy nghĩ là hình ảnh tinh thần của chủ thể.
Sự phân biệt vật chất với ý thức có ý nghĩa xác định trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Nó không tách thành hai thế giới tuyệt đối không liên quan. Chính việc giữ đúng sự khác nhau mới cho phép giải thích ý thức hình thành trên cơ sở nào và tác động tới hiện thực bằng con đường nào.
Vận động và sự đứng im tương đối
Vận động theo nghĩa triết học bao gồm mọi sự biến đổi, từ thay đổi vị trí đến biến đổi hóa học, sự sống và các quá trình xã hội. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Không có vật chất hoàn toàn không vận động, cũng không có vận động tồn tại như một thực thể tách khỏi vật chất.
Ăngghen phân biệt năm hình thức vận động cơ bản trong hệ thống tri thức thời ông: Cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội. Các hình thức liên hệ và làm tiền đề cho nhau. Một cơ thể sống bao hàm quá trình vật lý và hóa học, nhưng không thể giải thích sự sống chỉ bằng chuyển động vị trí. Tương tự, đời sống xã hội có cơ sở sinh học nhưng còn những quan hệ và quy luật đặc thù.
Đứng im là trạng thái ổn định tương đối của sự vật trong một quan hệ và điều kiện xác định. Quyển sách nằm yên so với bàn vẫn cùng Trái Đất vận động và vẫn có những quá trình vật lý bên trong. Vì thế, đứng im không phải sự vắng mặt tuyệt đối của biến đổi. Sự ổn định tương đối cho phép một sự vật giữ được đặc điểm xác định trong một thời gian và giúp con người nhận biết nó.
Sự ổn định giúp nhận diện sự vật trong vận động
Khi nói vận động là tuyệt đối còn đứng im là tương đối, cần xác định hai cách xét. Vật chất không tồn tại hoàn toàn ngoài biến đổi. Nhưng một trạng thái ổn định chỉ được giữ trong một thời gian, một quan hệ và những điều kiện nhất định. Tính tương đối của đứng im không làm nó trở thành ảo giác.
Một cái bàn có thể giữ hình dạng và chức năng đủ ổn định để được sử dụng, dù bên trong và trong môi trường của nó vẫn diễn ra nhiều quá trình. Nếu mọi thuộc tính đều thay đổi không có giới hạn nào, ta không thể nhận diện đối tượng hoặc tổ chức hoạt động với nó. Sự ổn định là một phương diện có thực của vận động.
Các hình thức vận động cũng cần được xem trong những quan hệ xác định. Hoạt động của cơ thể có các quá trình vật lý và hóa học làm cơ sở, nhưng sự phối hợp của cơ thể sống có đặc trưng riêng. Nghiên cứu một quá trình thành phần là cần thiết, song chưa đủ để giải thích toàn bộ trình độ tổ chức.
Trong đời sống xã hội, con người còn có ngôn ngữ, mục đích, lợi ích và các quan hệ lịch sử. Những điều kiện sinh học không tự giải thích đầy đủ một chế độ sở hữu hoặc một tổ chức chính trị. Tôn trọng tính thống nhất vật chất của thế giới đồng thời đòi hỏi nghiên cứu sự khác nhau giữa các hình thức vận động.
Do đó, phương pháp phù hợp phải giữ cả hai yêu cầu. Cần tìm những điều kiện vật chất làm nền tảng, đồng thời xác định quy luật và cơ chế riêng của đối tượng. Việc đồng nhất mọi biến đổi với chuyển động cơ học sẽ bỏ mất chính những khác biệt cần giải thích.
Chiếc xe dừng trước cửa
Một chiếc xe được dựng ở sân từ sáng đến chiều có vẻ không thay đổi. Ta gọi nó đứng yên vì vị trí của xe so với sân được giữ ổn định. Nhưng nếu cho rằng chiếc xe hoàn toàn không vận động thì ta đã mở rộng một nhận xét có điều kiện thành kết luận về mọi phương diện của đối tượng.
Vật liệu của xe vẫn chịu tác động của môi trường, còn bản thân xe cùng sân và ngôi nhà đều tham gia chuyển động của Trái Đất. Sự đứng yên đối với sân có thật, không phải ảo giác. Nó chỉ không phải trạng thái tuyệt đối bên ngoài mọi biến đổi. Chính nhờ sự ổn định tương đối ấy, chủ xe mới có thể quay lại đúng chỗ để lấy xe.
Nếu mọi sự vật đều đang vận động, vì sao ta vẫn nhận ra chiếc xe buổi chiều là chiếc đã dựng buổi sáng? Việc nhận diện dựa vào những đặc điểm và quan hệ đủ bền trong khoảng thời gian đang xét. Giữ được tính xác định không đòi hỏi mọi thành phần phải bất biến. Bởi vậy, vận động và ổn định không phải hai lời giải thích loại trừ nhau.
Tắt đèn không làm căn phòng biến mất
Khi ánh sáng trong phòng bị tắt, hình ảnh của bàn ghế trong mắt ta thay đổi, thậm chí có lúc ta không còn nhìn rõ chúng. Điều thay đổi trước hết là điều kiện quan sát. Không thể từ việc hình ảnh không còn rõ suy ra đối tượng đã thôi tồn tại.
Phân biệt này vẫn cần khi điều kiện quan sát thuận lợi. Nhìn thấy một chiếc bàn không có nghĩa ta đã biết hết vật liệu, độ bền và lịch sử sử dụng của nó. Một hình ảnh cảm tính có thể là điểm bắt đầu đúng nhưng còn rất hạn chế. Muốn biết thêm phải khảo sát đối tượng bằng những cách thích hợp.
Ở đây có hai câu hỏi khác nhau. Chiếc bàn có tồn tại độc lập với việc ta nhìn nó hay không là câu hỏi về tính khách quan. Ta biết được những thuộc tính nào và biết chính xác đến đâu là câu hỏi về nhận thức. Nhầm hai câu hỏi khiến người ta hoặc đồng nhất hiện thực với cảm giác hiện tại, hoặc tưởng đã thừa nhận hiện thực khách quan thì mọi quan sát đều chắc chắn đúng.
Không gian, thời gian và tính thống nhất của thế giới
Không gian biểu hiện quảng tính, vị trí, kết cấu và sự cùng tồn tại của các đối tượng. Thời gian biểu hiện độ dài diễn biến, trình tự và sự kế tiếp của các quá trình. Cả hai là hình thức tồn tại của vật chất vận động, không phải chiếc khung trống đứng ngoài thế giới. Một sự vật luôn có kết cấu và quá trình tồn tại cụ thể.
Luận điểm thế giới thống nhất ở tính vật chất khẳng định tự nhiên và xã hội không phải hai thế giới có nguồn gốc hoàn toàn tách biệt. Ý thức cũng xuất hiện trên cơ sở những điều kiện vật chất nhất định. Sự thống nhất ấy bao hàm sự đa dạng về trình độ tổ chức và hình thức vận động, chứ không xóa bỏ khác biệt giữa chúng.
Từ đó, nghiên cứu một hiện tượng cần tìm điều kiện tồn tại, quá trình biến đổi và các quan hệ thực của nó. Không thể dùng ý muốn thay cho việc khảo sát đối tượng. Đồng thời, không được lấy quy luật của một lĩnh vực để giải thích cơ học mọi lĩnh vực khác.
Trên nền tảng ấy, vấn đề tiếp theo là giải thích vì sao trong thế giới vật chất lại xuất hiện con người có khả năng nhận thức và đặt mục đích. Việc tìm hiểu nguồn gốc của ý thức sẽ nối quan niệm về thế giới với quan niệm về chủ thể đang nhận thức thế giới.

Bức ảnh mở rộng khả năng quan sát của con người, chứ không làm Trái Đất bắt đầu tồn tại. Tàu vũ trụ, thiết bị ghi hình và hoạt động giải mã tín hiệu là những điều kiện để có hình ảnh này. Vì thế, sự phụ thuộc của hình ảnh nhận được vào phương tiện quan sát cần được phân biệt với sự tồn tại khách quan của đối tượng.
Tài liệu tham khảo
- Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 2, tr. 61–143.
- Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 2, phần Bài tập.
- NASA, phi hành đoàn Apollo 17. Trái Đất trong bức ảnh của phi hành đoàn Apollo 17, chụp năm 1972.. Phạm vi công cộng. Bản thu nhỏ.