Giao diện
Phạm trù là công cụ phân tích những quan hệ cơ bản
Khi gặp một hiện tượng, ta thường cần phân biệt cái quan sát được với cái chi phối bên trong, điều đã xảy ra với điều mới có thể xảy ra. Phạm trù triết học là những khái niệm khái quát các mặt, thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của hiện thực. Chúng giúp tổ chức việc suy xét, nhưng không thay thế tài liệu cụ thể về đối tượng.
Sáu cặp phạm trù dưới đây không phải sáu danh sách từ đồng nghĩa và trái nghĩa. Mỗi cặp làm rõ một kiểu quan hệ. Cần nhận diện đối tượng đang xét, định nghĩa từng mặt và chỉ ra chúng chuyển hóa hoặc quy định nhau trong điều kiện nào.
Cái riêng và cái chung
Cái riêng là một sự vật, hiện tượng hoặc quá trình xác định. Cái chung là những mặt, thuộc tính hoặc quan hệ lặp lại ở nhiều cái riêng. Cái đơn nhất là những đặc điểm chỉ có ở một cái riêng trong phạm vi so sánh đang xét.
Một trường đại học cụ thể là cái riêng. Những đặc trưng chung về đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học là cái chung. Lịch sử thành lập cùng những dấu ấn riêng của trường thể hiện cái đơn nhất. Vì vậy, “cái riêng” không đồng nghĩa với “đặc điểm riêng”. Một bên là đối tượng toàn bộ, bên kia chỉ là một mặt của đối tượng.
Cái chung không tồn tại lơ lửng bên ngoài mọi cái riêng. Nó biểu hiện thông qua các sự vật cụ thể. Ngược lại, mỗi cái riêng đều có quan hệ với những cái riêng khác và chứa những mặt chung nhất định. Cái riêng phong phú hơn vì còn có các đặc điểm đơn nhất. Cái chung có thể phản ánh những quan hệ sâu sắc, ổn định giúp ta hiểu một nhóm đối tượng.
Trong những điều kiện xác định, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa. Một phương thức tổ chức lúc đầu chỉ xuất hiện ở một nơi có thể được tiếp nhận rộng rãi và trở thành cách làm chung. Một cách làm từng phổ biến cũng có thể dần chỉ còn ở ít nơi khi điều kiện thay đổi.
Ý nghĩa phương pháp luận là đi từ các trường hợp cụ thể để nhận ra cái chung, rồi vận dụng cái chung có điều chỉnh vào từng trường hợp. Chỉ sao chép hình thức của một kinh nghiệm sẽ bỏ qua điều kiện khiến kinh nghiệm ấy có hiệu quả. Ngược lại, tuyệt đối hóa sự khác biệt sẽ khiến ta không nhận ra quy luật hoặc kinh nghiệm có thể vận dụng.
Chiếc cốc giống nhau và chiếc cốc không thể thay thế
Hai chiếc cốc cùng kiểu có thể thay cho nhau khi ta cần đựng nước. Nhưng một chiếc được người thân tặng lại có ý nghĩa riêng đối với người giữ nó. Trong quan hệ sử dụng, những thuộc tính chung như cấu tạo và công dụng được đặt lên trước. Trong quan hệ tình cảm, lịch sử của chiếc cốc này trở thành yếu tố không thể thay nguyên bằng chiếc cùng mẫu.
Điều ấy không làm cái chung biến mất hoặc khiến chiếc cốc tồn tại ngoài những quan hệ khách quan. Nó cho thấy một cái riêng luôn phong phú hơn một đặc điểm được trừu tượng hóa. Nói các cốc cùng loại có công dụng chung không đồng nghĩa chúng đồng nhất ở mọi phương diện.
Nếu một chiếc cốc được làm đẹp hơn nhưng cầm khó hơn và dễ đổ hơn thì nên đánh giá ra sao? Không thể chỉ tách phần trang trí rồi gọi toàn bộ hình thức là tốt. Hình thức còn là cấu trúc và cách tổ chức giúp nội dung thực hiện chức năng. Cũng cần nói rõ đang xét đồ dùng hay vật trưng bày, bởi cùng một đặc điểm có thể phù hợp mục đích này mà chưa phù hợp mục đích khác.
Nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, làm nảy sinh biến đổi nhất định. Kết quả là biến đổi xuất hiện do sự tác động ấy. Nguyên nhân vì vậy cần được hiểu như một quá trình tác động, không chỉ như tên một đồ vật đứng trước đồ vật khác.
Quan hệ nhân quả có tính khách quan và diễn ra trong những điều kiện xác định. Nguyên nhân có trước kết quả do nó sinh ra, nhưng không phải cái gì xảy ra trước cũng là nguyên nhân. Tiếng chuông báo vào học có trước giờ học không chứng tỏ chính âm thanh đã tạo ra toàn bộ hoạt động dạy và học.
Cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện và nguyên cớ. Điều kiện giúp một tác động sinh ra kết quả nhưng không nhất thiết giữ cùng vai trò với nguyên nhân đang xét. Nguyên cớ là sự kiện có thể làm quá trình bộc lộ hoặc được dùng làm lý do trực tiếp. Muốn giải thích sâu phải tìm quá trình tác động thực, thay vì dừng ở sự kiện dễ nhìn thấy nhất.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân kết hợp. Cây héo có thể liên quan chế độ nước, tổn thương rễ hoặc điều kiện môi trường. Ngược lại, cùng một tác động có thể dẫn đến những kết quả khác nhau khi điều kiện khác nhau. Bởi vậy, việc tìm nguyên nhân đòi hỏi so sánh, kiểm tra và phân biệt vai trò chủ yếu, thứ yếu.
Trong chuỗi tác động, kết quả có thể trở thành nguyên nhân của biến đổi tiếp theo và tác động trở lại quá trình đã sinh ra nó. Kỹ năng lao động tốt hơn có thể nâng hiệu quả sản xuất. Kết quả ấy lại tạo điều kiện để đầu tư công cụ và học tập thêm. Sự đổi vai không xóa bỏ chiều sinh thành trong từng quan hệ cụ thể.
Muốn xử lý một hiện tượng bất lợi phải tác động vào nguyên nhân và điều kiện duy trì nó. Chỉ sửa biểu hiện trước mắt có thể cần thiết, nhưng chưa bảo đảm loại bỏ quá trình làm nó tái diễn.
Tất nhiên và ngẫu nhiên
Tất nhiên là mối liên hệ do những nguyên nhân cơ bản, bên trong quy định và phải xảy ra khi có các điều kiện xác định. Ngẫu nhiên là những mối liên hệ có thể xảy ra hoặc không, có thể xảy ra theo cách này hoặc cách khác do sự gặp gỡ của các điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
Ngẫu nhiên không đồng nghĩa với không có nguyên nhân. Một cuộc gặp tình cờ vẫn có những nguyên nhân khiến mỗi người đến địa điểm ấy. Nó ngẫu nhiên đối với một quá trình đang xét vì không phải kết quả bắt buộc từ bản chất của quá trình đó. Cũng không thể lấy việc chưa biết nguyên nhân làm tiêu chuẩn duy nhất để gọi một sự kiện là ngẫu nhiên.
Tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại trong quan hệ thống nhất. Cái tất nhiên không xuất hiện như một lực lượng thuần túy tách khỏi các sự kiện cụ thể, mà bộc lộ qua nhiều biểu hiện có yếu tố ngẫu nhiên. Những yếu tố ngẫu nhiên có thể làm thay đổi thời điểm, hình thức và mức độ của một quá trình.
Sự suy giảm chất lượng vật liệu do hao mòn trong điều kiện sử dụng là một xu hướng có tính quy luật. Thời điểm một chi tiết cụ thể hỏng còn phụ thuộc tải trọng bất thường, sai khác vật liệu và hoàn cảnh sử dụng. Phân tích xu hướng chung và phân tích sự cố cụ thể vì thế liên quan nhau nhưng không đồng nhất.
Ý nghĩa phương pháp luận là dựa vào quan hệ tất nhiên để nhận ra xu hướng và xây dựng kế hoạch, đồng thời tính đến các biến cố ngẫu nhiên để chuẩn bị phương án ứng phó. Không nên phó mặc kết quả cho may rủi. Cũng không nên tin rằng đã biết xu hướng chung thì có thể bỏ qua mọi hoàn cảnh cụ thể.
Nội dung và hình thức
Nội dung là tổng thể các mặt, yếu tố và quá trình tạo nên sự vật. Hình thức là phương thức tồn tại và tổ chức của nội dung, tức hệ thống những mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố ấy. Hình thức vì vậy không chỉ là vẻ trang trí bên ngoài.
Trong một buổi học, tri thức, hoạt động của người dạy và người học cùng các nhiệm vụ học tập góp phần tạo nên nội dung. Cách sắp xếp trình tự, phân công và tương tác là phương thức tổ chức nội dung ấy. Nếu chỉ đổi màu trình chiếu mà không đổi quan hệ tổ chức, ta mới chạm một biểu hiện bề ngoài của hình thức.
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức. Khi nội dung phát triển, hình thức cần được điều chỉnh cho phù hợp. Tuy vậy, hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại. Một cách tổ chức thích hợp có thể làm các yếu tố phối hợp hiệu quả. Cách tổ chức cứng nhắc có thể kìm hãm nội dung đã đổi mới.
Quan hệ này không phải sự tương ứng đơn giản giữa một nội dung và một hình thức duy nhất. Một nội dung có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức, còn cùng một hình thức có thể phục vụ những nội dung khác nhau. Vì thế, đánh giá phải xem chúng phù hợp với nhau đến đâu trong trường hợp cụ thể.
Ý nghĩa phương pháp luận là chú trọng chất lượng nội dung, đồng thời lựa chọn và đổi mới hình thức tổ chức. Chỉ chạy theo biểu hiện đẹp mắt dễ dẫn tới hình thức chủ nghĩa. Chỉ coi trọng nội dung mà bỏ qua cách tổ chức lại có thể làm nội dung không được thực hiện hiệu quả.
Bản chất và hiện tượng
Bản chất là tổng thể những mối liên hệ khách quan, tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự vận động và phát triển của đối tượng. Hiện tượng là sự biểu hiện ra bên ngoài của những mặt và mối liên hệ ấy trong những điều kiện xác định.
Bản chất không tồn tại ngoài hiện tượng. Muốn biết bản chất phải xuất phát từ những biểu hiện có thể khảo sát. Nhưng hiện tượng không trình bày bản chất một cách đầy đủ, trực tiếp và thuần túy. Nó còn chịu ảnh hưởng của những điều kiện và quan hệ khác.
Kết quả một lần kiểm tra biểu hiện một mặt năng lực học tập, đồng thời chịu tác động của dạng đề, sức khỏe và hoàn cảnh làm bài. Muốn nhận xét năng lực ổn định hơn phải đối chiếu nhiều biểu hiện và xem cách người học xử lý những nhiệm vụ khác nhau. Một kết quả đơn lẻ có ý nghĩa, nhưng chưa đại diện đầy đủ cho bản chất đang tìm hiểu.
Hiện tượng có thể biểu hiện bản chất dưới hình thức dễ gây nhầm lẫn. Bởi vậy, đi sâu vào bản chất không có nghĩa phủ nhận dữ kiện không thuận với kết luận của mình. Cần giải thích được vì sao các biểu hiện khác nhau cùng xuất hiện và chúng liên hệ với cơ chế bên trong ra sao.
Về phương pháp, phải thu thập và phân tích hiện tượng, phân biệt biểu hiện chủ yếu với thứ yếu, rồi tìm những quan hệ tương đối ổn định. Kết luận về bản chất phải tiếp tục được kiểm tra qua các biểu hiện và điều kiện mới. Không thể dùng một lời khẳng định trừu tượng để thay thế việc giải thích dữ kiện.
Cửa hàng vắng khách sau khi thay bảng hiệu
Giả sử một cửa hàng thay bảng hiệu rồi lượng khách giảm. Hai sự kiện nối tiếp nhau khiến chủ cửa hàng nghĩ ngay bảng hiệu là nguyên nhân. Nhưng còn cần xem giá bán, giờ mở cửa, chất lượng phục vụ và những thay đổi xung quanh. Cái xảy ra trước là nơi nên khảo sát, chưa tự trở thành nguyên nhân đã được chứng minh.
Một buổi vắng khách là hiện tượng có thật. Nó có thể biểu hiện một vấn đề bền vững của cửa hàng, nhưng cũng có thể chịu ảnh hưởng của một tình huống nhất thời. Muốn tìm bản chất phải xem nhiều biểu hiện và cơ chế liên hệ giữa chúng. Việc chỉ chọn những ngày thuận với lời giải thích ban đầu sẽ làm dữ kiện bị đặt dưới mong muốn.
Trong quá trình khảo sát, những nguyên nhân và điều kiện không giữ vai trò giống nhau. Một đợt mưa có thể ảnh hưởng thời điểm khách đến, trong khi sự phục vụ thiếu ổn định có thể tiếp tục tác động khi thời tiết đã đổi. Không vì cần tìm yếu tố chủ yếu mà được phép bỏ qua điều kiện ngẫu nhiên, bởi nó vẫn có thể làm thay đổi kết quả của một giai đoạn.
Nếu cửa hàng có đội ngũ biết nghề nhưng cách phối hợp còn kém, cải thiện phục vụ là một khả năng có căn cứ. Tuy nhiên, khả năng không đồng nghĩa kết quả đã hiện diện. Còn phải đổi cách phân công, thực hiện và theo dõi phản hồi. Nhìn rõ triển vọng mà không nhận ra những điều kiện cần tạo thêm dễ khiến chủ cửa hàng nhầm hy vọng với một kết quả đã được bảo đảm.
Khả năng và hiện thực
Khả năng là những tiền đề và xu hướng làm cho sự vật có thể hình thành khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực là những gì đang tồn tại, trong đó có kết quả của khả năng đã được thực hiện. Khả năng khách quan khác với bất cứ điều gì con người có thể tưởng tượng.
Một hạt giống có khả năng phát triển thành cây vì cấu tạo và các quá trình sống của nó. Khả năng ấy cần những điều kiện thích hợp để thành hiện thực. Việc đã có khả năng không có nghĩa kết quả chắc chắn xuất hiện bất chấp môi trường. Khi cây hình thành, hiện thực mới lại mở ra các khả năng tiếp theo.
Trong cùng một hiện thực có thể tồn tại nhiều khả năng. Một tổ chức có thể phát triển hoặc suy giảm tùy điều kiện và cách giải quyết các vấn đề. Các khả năng không có căn cứ, mức độ chín muồi và triển vọng thực hiện ngang nhau.
Có thể phân biệt khả năng thực gắn với những quan hệ tất nhiên và khả năng hình thức gắn với những quan hệ ngẫu nhiên. Cũng cần phân biệt khả năng cụ thể, đã có điều kiện thực hiện, với khả năng trừu tượng, còn phải chờ những điều kiện chưa hình thành. Các cách phân biệt giúp đánh giá cơ sở của dự báo, thay vì đánh đồng mong muốn với triển vọng khách quan.
Trong hoạt động xã hội, con người có thể chủ động tạo điều kiện để một khả năng thuận lợi thành hiện thực. Điều đó đòi hỏi xuất phát từ hiện thực đang có, lựa chọn khả năng có căn cứ và dự kiến cả những hướng biến đổi bất lợi. Nhận thức khả năng nhằm tổ chức hành động, chứ không chỉ liệt kê tương lai có thể tưởng tượng.
Các cặp phạm trù giúp phân biệt những mặt của đối tượng và quan hệ giữa chúng. Ba quy luật cơ bản sẽ tiếp tục làm rõ những quan hệ ấy khi xem xét động lực, cách thức và khuynh hướng của sự phát triển.

Hạt có khả năng nảy mầm nhưng không phải hạt nào cũng thực sự trở thành cây. Độ ẩm, nhiệt độ và tình trạng của phôi tham gia vào quá trình hiện thực hóa khả năng ấy. Khi phân tích một kết quả, cần tìm cả điều kiện bên trong lẫn bên ngoài. Chỉ nhìn vào hình cuối cùng sẽ che khuất những điều kiện đã giúp nó hình thành.
Tài liệu tham khảo
- Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 2, tr. 61–143.
- Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 2, phần Bài tập.
- HudsonFlagg. Các giai đoạn từ hạt đậu đến cây con.. CC0. Bản thu nhỏ.