Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Chương 3 · Chủ đề 2

Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng và hình thái kinh tế - xã hội

Một hoạt động kinh tế luôn diễn ra trong những quy tắc về sở hữu, quyền hạn và trách nhiệm. Các quy tắc ấy lại được thể hiện bằng pháp luật, thiết chế và quan niệm xã hội. Muốn hiểu một xã hội, cần thấy quan hệ giữa nền tảng kinh tế với toàn bộ cách tổ chức đời sống chung.

Cơ sở hạ tầng trong nghĩa triết học ​

Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội. Trong nghĩa này, nó không chỉ đường sá, cầu cống hay hệ thống điện. Những công trình ấy là điều kiện vật chất, còn khái niệm đang xét chỉ các quan hệ giữa người với người trong sản xuất.

Cơ sở hạ tầng của một xã hội có thể gồm nhiều kiểu quan hệ sản xuất. Có quan hệ giữ địa vị thống trị, có tàn dư của quan hệ cũ và có mầm mống của quan hệ mới. Quan hệ thống trị quy định đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế, nhưng không làm những quan hệ khác lập tức biến mất.

Điều này giúp hiểu vì sao trong cùng một xã hội có thể tồn tại những cách sở hữu, tổ chức và phân phối khác nhau. Nghiên cứu xã hội cần xác định quan hệ nào đang giữ vai trò chủ đạo và các quan hệ tác động đến nhau ra sao. Không thể lấy một hiện tượng kinh tế riêng lẻ đại diện cho toàn bộ cơ cấu.

Có thể bắt đầu từ một cửa hàng bán hàng qua mạng. Những chiếc điện thoại, kho chứa và đường truyền là điều kiện kỹ thuật. Quan hệ giữa người sở hữu cửa hàng, người làm thuê và những bên cùng góp vốn mới là các quan hệ kinh tế cần xét. Cùng một kho hàng có thể được sử dụng trong những quan hệ sở hữu và phân phối rất khác nhau.

Nếu đường truyền được nâng cấp, cơ sở hạ tầng trong nghĩa triết học đã thay đổi hay chưa? Chưa thể kết luận chỉ từ việc ấy. Cần xem sự cải tiến kỹ thuật có làm biến đổi quan hệ sở hữu, quản lý hoặc phân phối hay không. Nhờ vậy, ta tránh lấy hình ảnh một con đường hay một nhà máy để thay cho quan hệ xã hội mà khái niệm muốn nhận diện.

Cần cẩu và container tại một cảng hàng hóa.
Hình 3.2: Cần cẩu và container tại một cảng hàng hóa.

Cảng và cần cẩu là những công trình, phương tiện vật chất có thể nhìn thấy. Chúng không đồng nghĩa với “cơ sở hạ tầng” trong nghĩa triết học đang dùng ở đây. Muốn phân tích cơ sở kinh tế, phải hỏi về quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối gắn với hoạt động tại cảng. Hình ảnh công trình chỉ mở đầu việc tìm hiểu các quan hệ ấy.

Kiến trúc thượng tầng gồm tư tưởng và thiết chế ​

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội cùng những thiết chế tương ứng và các quan hệ nội tại của chúng, hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Nó bao gồm các quan điểm chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học và những tổ chức gắn với chúng.

Nhà nước, các tổ chức chính trị và các thiết chế tôn giáo là những bộ phận có cách tổ chức, phương tiện hoạt động khác nhau. Vì vậy, kiến trúc thượng tầng không chỉ tồn tại trong đầu óc dưới dạng ý niệm. Tư tưởng còn được tổ chức thành hoạt động, quy tắc và bộ máy có khả năng tác động đến xã hội.

Các bộ phận không liên hệ với kinh tế bằng cùng một con đường. Chính trị và pháp luật gắn khá trực tiếp với những quan hệ kinh tế, chẳng hạn xác định quyền sở hữu và trách nhiệm trong trao đổi. Nghệ thuật, tôn giáo hay triết học thường liên hệ thông qua nhiều khâu trung gian và truyền thống tư tưởng.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, kiến trúc thượng tầng cũng có những quan điểm và tổ chức đối lập nhau. Tư tưởng giữ địa vị thống trị không phải tư tưởng duy nhất tồn tại. Những lực lượng phê phán trật tự hiện có cũng hình thành quan điểm, cách tổ chức và hoạt động của mình.

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng ​

Luận điểm này xác định rằng nguồn gốc, tính chất và sự biến đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng xét đến cùng phải được giải thích từ những quan hệ kinh tế hiện thực. Một trật tự sở hữu cần những quy tắc và thiết chế bảo vệ nó. Những lợi ích khác nhau cũng tạo cơ sở cho những quan điểm chính trị, pháp lý khác nhau.

Khi cơ cấu kinh tế biến đổi sâu sắc, các quy tắc và tổ chức tương ứng đứng trước yêu cầu thay đổi. Tuy nhiên, không phải mọi yếu tố tinh thần đều thay đổi ngay sau một biến động kinh tế. Một số quan niệm, tập quán và giá trị có thể tiếp tục tồn tại, được cải biến hoặc được kế thừa trong hoàn cảnh mới.

Chẳng hạn, khi quan hệ trao đổi mở rộng vượt khỏi những cộng đồng nhỏ, những tập quán giao dịch chỉ dựa vào quen biết có thể trở nên không đủ. Nhu cầu xác định quyền, nghĩa vụ và xử lý tranh chấp đặt ra yêu cầu đối với các thiết chế. Ví dụ cho thấy một cơ chế liên hệ, không thay thế việc nghiên cứu lịch sử của từng xã hội.

Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại kinh tế ​

Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối. Một thiết chế sau khi hình thành có tổ chức, phương tiện và cách vận động riêng. Nó có thể bảo vệ quan hệ kinh tế hiện có, điều chỉnh cách hoạt động của các chủ thể hoặc hỗ trợ hình thành những quan hệ mới.

Nhà nước có vai trò đặc biệt vì sử dụng quyền lực công và hệ thống pháp luật. Những quy định về sở hữu, phân phối và tổ chức sản xuất có thể mở đường hoặc gây trở ngại cho hoạt động kinh tế. Đạo đức, tôn giáo và tư tưởng cũng ảnh hưởng đến động cơ, niềm tin và cách hợp tác của con người.

Một quy định giúp các bên biết rõ quyền và trách nhiệm có thể tạo điều kiện cho hợp tác ổn định. Trái lại, quy định không phù hợp với khả năng thực tế có thể khiến hoạt động sản xuất khó thực hiện. Tác dụng ấy phải được đánh giá qua hoạt động và kết quả thực tế, không chỉ qua mục đích được tuyên bố.

Vì thế, xác định vai trò quyết định của kinh tế không đồng nghĩa chờ kinh tế tự giải quyết mọi vấn đề chính trị. Đồng thời, sức mạnh của thiết chế không cho phép ý chí chính trị tạo ra tùy ý những năng lực vật chất còn thiếu. Hai cách tuyệt đối hóa ấy đều cắt đứt quan hệ đang cần giải thích.

Khi cửa hàng mở rộng và giao dịch với nhiều người chưa từng gặp, lời hứa miệng dựa vào quen biết có thể không còn đủ. Các bên cần xác định cách chứng minh giao hàng, trách nhiệm khi sản phẩm hỏng và phương thức giải quyết bất đồng. Những yêu cầu kinh tế ấy tạo vấn đề cho hoạt động pháp lý và quản lý. Tư tưởng và thiết chế xuất hiện trong một nhu cầu đời sống có thể nhận diện được.

Chiều tác động trở lại cũng rõ. Một cách xử lý tranh chấp đáng tin cậy có thể giúp các bên mạnh dạn hợp tác. Một thủ tục quá rườm rà có thể làm họ ngại giao dịch. Tuy vậy, quy tắc rõ ràng chưa thay thế được hàng hóa, kỹ năng và phương tiện vận chuyển. Muốn đánh giá tác dụng của thể chế, cần nhìn cả khả năng thực hiện và những lợi ích mà nó phân bố.

Quan hệ kinh tế và chính trị trong quá trình biến đổi xã hội ​

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng không có nghĩa mọi biến đổi chính trị đều phải chờ một cơ cấu kinh tế mới hoàn chỉnh. Chính trị có thể tác động tới việc tổ chức, bảo vệ hoặc cải biến những quan hệ kinh tế đang tồn tại. Khả năng tác động ấy vẫn cần được xét trong điều kiện vật chất và tương quan lực lượng cụ thể.

Khi những quan hệ mới xuất hiện bên cạnh quan hệ cũ, các lực lượng xã hội có thể có những yêu cầu khác nhau về luật pháp và tổ chức quyền lực. Sự biến đổi vì thế không diễn ra như việc đổi đồng thời mọi bộ phận của một cỗ máy. Các mặt có thể thay đổi không cùng nhịp, làm nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết.

Trong thời kỳ quá độ, việc xây dựng quan hệ kinh tế và thiết chế tương ứng thường là quá trình từng bước. Cơ cấu kinh tế còn đa dạng thì không thể chỉ nhìn vào một hình thức riêng để kết luận toàn bộ nền tảng xã hội đã đồng nhất. Cần nghiên cứu vai trò của từng thành phần và sự tác động giữa chúng.

Phương diện chủ động của chính trị thể hiện ở việc nhận ra yêu cầu khách quan và lựa chọn cách tác động phù hợp. Nếu đặt mục tiêu vượt quá những điều kiện có thể tạo dựng, ý chí chính trị không thay thế được năng lực sản xuất còn thiếu. Nếu chỉ chờ kinh tế tự điều chỉnh, những trở lực thể chế lại có thể tiếp tục kìm hãm hoạt động.

Quan hệ này làm rõ ý nghĩa của việc xem xã hội như một chỉnh thể lịch sử. Quyết định về tổ chức và pháp luật cần gắn với cơ cấu kinh tế, nhưng vẫn phải được đánh giá về nội dung, cách thực hiện và tác dụng trở lại. Chỉ nhắc vai trò của kinh tế hoặc chính trị riêng rẽ sẽ chưa giải thích được biến đổi.

Hình thái kinh tế - xã hội là một chỉnh thể lịch sử ​

Hình thái kinh tế - xã hội chỉ xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, có quan hệ sản xuất đặc trưng, gắn với một trình độ lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng. Khái niệm này kết hợp những yếu tố đã học thành một cách xem xét xã hội trong tính chỉnh thể.

Lực lượng sản xuất tạo nền tảng vật chất và năng lực cải biến tự nhiên. Quan hệ sản xuất tạo cơ cấu kinh tế, đồng thời là căn cứ phân biệt bản chất các chế độ xã hội. Kiến trúc thượng tầng thể hiện đời sống chính trị, tư tưởng và những thiết chế tương ứng. Không yếu tố nào tồn tại hoàn toàn biệt lập.

Học thuyết khái quát tiến trình lịch sử qua những hình thái như cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong hệ thống lý luận này, xã hội xã hội chủ nghĩa được xem là giai đoạn đầu của hình thái cộng sản chủ nghĩa.

Những tên gọi ấy là kết quả khái quát lý luận về các cấu trúc xã hội. Khi nghiên cứu một quốc gia, vẫn phải xác định các quan hệ hiện thực và điều kiện lịch sử cụ thể. Không thể chỉ gắn một nhãn rồi suy ra mọi mặt của đời sống xã hội đều thuần nhất.

Hãy hình dung một địa phương tiếp cận được công nghệ mới nhờ trao đổi với bên ngoài. Người dân không nhất thiết chế tạo lại từng thế hệ máy móc từng xuất hiện trong lịch sử. Họ có thể học và sử dụng thành tựu đã có. Nhưng để máy hoạt động lâu dài vẫn cần người vận hành, nguồn năng lượng, vốn và cách tổ chức phù hợp.

Sự tiếp thu ấy giúp hiểu khả năng phát triển rút ngắn mà không giản lược toàn bộ biến đổi xã hội thành chuyện nhập công nghệ. Thành tựu có thể được kế thừa, còn những điều kiện làm chủ nó phải được tạo dựng. Khi nghe một lời hứa “đi tắt”, ta có thể tiếp tục hỏi: Những khâu nào thực sự được kế thừa, và những điều kiện nào vẫn cần kiên trì xây dựng?

Quá trình lịch sử - tự nhiên không phải một lịch trình máy móc ​

Gọi sự phát triển các hình thái là quá trình lịch sử - tự nhiên có hai ý nghĩa gắn nhau. Lịch sử vận động dưới tác động của những quy luật khách quan. Nhưng các quy luật xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạt động có ý thức của những con người trong hoàn cảnh xác định.

Con người không tự chọn được toàn bộ điều kiện xuất phát. Họ thừa hưởng công cụ, quan hệ, tri thức và những mâu thuẫn của các thế hệ trước. Tuy vậy, cách nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn ấy có thể ảnh hưởng đến hướng đi, nhịp độ và hình thức biến đổi xã hội.

Tính quy luật không đòi mọi dân tộc phải trải qua đầy đủ một trình tự giống hệt nhau. Sự giao lưu và kế thừa thành tựu từ các xã hội khác tạo khả năng phát triển rút ngắn. Khả năng ấy vẫn cần những tiền đề vật chất và năng lực chủ thể tương ứng, không thể có chỉ bằng mong muốn.

Trong quan niệm về con đường phát triển của Việt Nam, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không được hiểu là bỏ qua khoa học, công nghệ hay những thành tựu tổ chức sản xuất của nhân loại. Nội dung được bỏ qua là việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.

Giá trị phương pháp của học thuyết nằm ở yêu cầu xem xã hội như một chỉnh thể có lịch sử. Khi giải thích một biến đổi, cần nối năng lực sản xuất với quan hệ lợi ích, tư tưởng, thiết chế và hoạt động của con người. Từ đó mới hiểu vì sao một mâu thuẫn kinh tế có thể trở thành vấn đề giai cấp và chính trị.

Tài liệu tham khảo ​

  1. Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 3, tr. 144–254.
  2. Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 3, phần Bài tập.
  3. Daniel Ramirez. Cần cẩu và container tại một cảng hàng hóa.. CC BY 2.0. Bản thu nhỏ.

Cập nhật lần cuối:

Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to