Không gian tự học dành cho sinh viên UET

Chào mừng đến với UETệ

Tìm bài giảng theo học phần, hiểu lại những kiến thức nền và ôn tập theo nhịp học của bạn.

Bài giảng
Đọc Notes, ôn nhanh với Slides và luyện tập qua các bài có lời giải.
Wiki kiến thức
Tra cứu thuật ngữ và bổ sung kiến thức nền ngay khi cần.
Góc học tập
Ôn bằng flashcard, lưu ghi chú và hẹn giờ tập trung.

Bạn có thể xem lại phần giới thiệu ở cuối trang.

Buy me a coffee

Website hoàn toàn miễn phí. Nếu thấy hữu ích, bạn có thể tặng tôi một cốc cà phê theo thông tin dưới đây nhé!

Mã QR chuyển khoản Momo
Ngân hàng
Momo
Tên người nhận
MOMO - TKTH DO MINH TRI
Số tài khoản
01MMTTT0060405229
Skip to content

Chương 1 · Chủ đề 2

Vấn đề cơ bản của triết học

Một kế hoạch xây cầu có trước cây cầu được xây dựng. Vậy có thể kết luận ý thức có trước vật chất không? Chưa thể, vì bản thiết kế đã dựa vào vật liệu, địa hình, nhu cầu đi lại và tri thức được tích lũy từ hiện thực. Câu hỏi triết học phải xét quan hệ nền tảng giữa ý thức và thế giới, không chỉ thứ tự của hai sự việc trong một công việc cụ thể.

Hai mặt của cùng một vấn đề ​

Trong triết học Mác – Lênin, vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất. Vấn đề này có hai mặt:

Phương diệnCâu hỏiLập trường
Về cái có trước và quyết địnhVật chất hay ý thức là cái có trước, cái nào quyết định cái nào?Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Về khả năng nhận thứcCon người có thể nhận thức thế giới và bản chất của sự vật không?Thuyết khả tri và thuyết bất khả tri.

Đây là vấn đề cơ bản vì cách giải quyết nó chi phối cách giải thích tự nhiên, xã hội và hoạt động con người. Tuy nhiên, phân biệt hai mặt vẫn cần thiết. Thừa nhận con người có khả năng hiểu thế giới chưa cho biết người đó coi vật chất hay tinh thần là nền tảng của thế giới.

Chủ nghĩa duy vật và những hình thức lịch sử ​

Chủ nghĩa duy vật khẳng định giới tự nhiên, vật chất tồn tại trước, độc lập với ý thức và quyết định ý thức. Ý thức hình thành trên cơ sở vật chất và là sự phản ánh hiện thực. Lập trường ấy không phủ nhận tư duy, tình cảm hay lý tưởng, mà tìm cách giải thích nguồn gốc và tác dụng của chúng từ những điều kiện hiện thực.

Chủ nghĩa duy vật có ba hình thức cơ bản. Duy vật chất phác thời cổ đại tìm nguồn gốc thế giới trong tự nhiên, nhưng thường đồng nhất vật chất nói chung với một dạng cụ thể như nước, lửa hoặc nguyên tử. Giá trị của nó là không cần viện đến một lực lượng siêu nhiên để giải thích giới tự nhiên. Giới hạn của nó nằm ở tính trực quan và trình độ khoa học còn thấp.

Duy vật siêu hình phát triển rõ trong thời cận đại, đặc biệt dưới ảnh hưởng của cơ học cổ điển. Nó nhấn mạnh tính khách quan của thế giới, nhưng thường xem sự vật như những bộ phận biệt lập của một cỗ máy. Vận động dễ bị thu hẹp thành dịch chuyển cơ học, còn biến đổi về chất và những quan hệ phức tạp chưa được giải thích đầy đủ.

Duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I. Lênin phát triển, kết hợp quan điểm duy vật với việc xem xét liên hệ, vận động và phát triển. Đối với xã hội, nó tìm cơ sở giải thích trong đời sống vật chất và thực tiễn của con người, đồng thời thừa nhận vai trò của ý thức thông qua hoạt động thực tiễn.

Hai hình thức chủ nghĩa duy tâm ​

Chủ nghĩa duy tâm đặt tinh thần, ý thức hoặc ý niệm ở vị trí có trước và quyết định thế giới vật chất. Hai hình thức của nó khác nhau ở cách hiểu thực thể tinh thần ấy.

Duy tâm chủ quan lấy ý thức, cảm giác của chủ thể làm điểm xuất phát và quy sự tồn tại của đối tượng về cảm giác hoặc những tổ hợp cảm giác. Cần phân biệt lập trường này với sự thật rằng mỗi người tiếp nhận thế giới bằng kinh nghiệm riêng. Có trải nghiệm chủ quan không đồng nghĩa thế giới chỉ tồn tại trong trải nghiệm ấy.

Duy tâm khách quan thừa nhận một thực thể tinh thần tồn tại độc lập với ý thức của từng cá nhân, chẳng hạn ý niệm tuyệt đối, rồi coi nó là nguồn gốc của tự nhiên. Từ “khách quan” ở đây nói đến sự độc lập với cá nhân, không có nghĩa học thuyết đã thừa nhận tính thứ nhất của vật chất.

Những học thuyết nhất nguyên lấy một bản nguyên làm nền tảng, có thể là vật chất hoặc tinh thần. Nhị nguyên luận thừa nhận vật chất và tinh thần là hai bản nguyên độc lập. Khó khăn của lập trường nhị nguyên là phải giải thích hai thực thể độc lập ấy tác động đến nhau bằng cách nào.

Platon và Arixtốt ở trung tâm bức Trường học Athens.
Hình 1.2: Platon và Arixtốt ở trung tâm bức Trường học Athens.

Trong ngôn ngữ tạo hình của Raphael, Platon chỉ tay lên cao, còn Arixtốt đưa tay ngang về phía thế giới trước mặt. Cử chỉ gợi sự khác biệt về cách tìm nền tảng của hiểu biết. Tuy nhiên, không thể dùng một động tác trong tranh để thay thế việc đọc và phân tích lập trường của từng nhà triết học.

Nguồn gốc nhận thức và xã hội của quan điểm duy tâm ​

Con người chỉ biết thế giới thông qua hoạt động nhận thức của mình. Cảm giác, khái niệm và tư duy vì thế có vai trò thực sự, không thể gạt bỏ. Nhưng từ vai trò ấy có thể xuất hiện một bước chuyển sai về lập luận. Người ta tuyệt đối hóa một mặt của nhận thức rồi coi nó là nền tảng sản sinh toàn bộ hiện thực.

Chẳng hạn, mọi hiểu biết của ta về màu sắc đều phải đi qua cảm giác. Điều đó chưa cho phép kết luận đối tượng chỉ tồn tại như cảm giác của ta. Mệnh đề về con đường nhận biết và mệnh đề về cơ sở tồn tại trả lời hai vấn đề khác nhau. Đánh đồng chúng sẽ biến sự phụ thuộc của tri thức vào chủ thể thành sự phụ thuộc của thế giới vào chủ thể.

Sự khái quát cũng có thể bị tuyệt đối hóa theo cách khác. Khái niệm giúp con người nhận ra cái chung giữa nhiều sự vật. Nhưng nếu tách cái chung thành một thực thể tinh thần độc lập rồi cho rằng thực thể ấy tạo ra các sự vật, thứ tự giải thích đã bị đảo ngược theo quan điểm duy vật.

Về mặt xã hội, sự phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay có thể làm mờ cơ sở vật chất của hoạt động tinh thần. Người điều hành nhìn thấy mệnh lệnh đi trước công việc, trong khi những điều kiện khiến mệnh lệnh có thể thực hiện lại bị đặt ra ngoài tầm chú ý. Những quan hệ lợi ích và quyền lực cũng có thể củng cố cách nhìn ấy.

Giải thích nguồn gốc xã hội không có nghĩa mọi người làm việc trí óc đều duy tâm. Cũng không thể suy từ một học thuyết duy tâm tới kết luận tác giả của nó không biết lập luận. Chủ nghĩa duy tâm triết học có những hệ thống lý luận phức tạp. Muốn phê phán cần xác định đúng bước tuyệt đối hóa hoặc đảo ngược quan hệ, thay vì chỉ gắn nhãn.

Khả tri, bất khả tri và giới hạn của tri thức ​

Thuyết khả tri khẳng định con người về nguyên tắc có thể nhận thức thế giới và bản chất sự vật. Điều này không có nghĩa mỗi cá nhân đã biết mọi thứ hoặc mọi kết luận hiện có đều đúng. Tri thức cần được bổ sung, sửa chữa và kiểm nghiệm.

Thuyết bất khả tri cho rằng con người không thể đạt tới bản chất thực sự của đối tượng, dù vẫn có thể biết các biểu hiện hoặc kinh nghiệm về nó. Trong lịch sử, Hium và Cantơ là những đại biểu quan trọng thường được xem xét khi trình bày lập trường này. Hoài nghi luận có liên hệ với bất khả tri, nhưng không nên đồng nhất mọi sự hoài nghi với việc phủ nhận khả năng nhận thức.

Hoài nghi một kết luận để yêu cầu chứng cứ có thể phục vụ khoa học. Chỉ khi tuyệt đối hóa sự hoài nghi thành quan niệm rằng con người không thể đạt tri thức khách quan, nó mới khác về căn bản với thái độ kiểm tra có phương pháp. Chủ nghĩa duy vật biện chứng phân biệt cái chưa biết với cái về nguyên tắc không thể biết, đồng thời coi thực tiễn là cơ sở kiểm nghiệm nhận thức.

Cuối cùng, duy vật không phải tên gọi một lối sống ham tiền bạc, còn duy tâm không đồng nghĩa với sống có đạo đức. Muốn phân loại một quan điểm triết học, phải xét cách nó giải quyết quan hệ vật chất và ý thức, thay vì đánh giá phẩm chất cá nhân.

Một bức ảnh không tạo ra căn phòng ​

Khi gọi điện trực tuyến, ta nhìn thấy căn phòng của người đối thoại qua màn hình. Chất lượng đường truyền, góc máy và ánh sáng làm thay đổi hình ảnh nhận được. Sự thay đổi ấy chứng tỏ hiểu biết của ta có điều kiện trung gian, nhưng không chứng tỏ căn phòng chỉ tồn tại khi được nhìn thấy.

Tắt máy khiến hình ảnh biến mất khỏi màn hình của ta. Căn phòng và hoạt động của người đối thoại vẫn có thể tiếp tục. Cần phân biệt sự phụ thuộc của hình ảnh vào thiết bị, chủ thể với sự tồn tại của đối tượng được phản ánh. Nếu bỏ sự phân biệt này, ta sẽ biến giới hạn của cách nhìn thành một kết luận quá rộng về thế giới.

Ví dụ không tự giải quyết mọi tranh luận triết học. Nó giúp nhận đúng hai câu hỏi đang được đặt ra. Một câu hỏi là hình ảnh của ta hình thành thế nào và có thể sai lệch ra sao. Câu hỏi khác là cái được nhìn có tồn tại độc lập với việc ta đang nhìn hay không. Chủ nghĩa duy vật khẳng định sự độc lập ấy, đồng thời vẫn phải giải thích vai trò của cơ thể, công cụ và hoạt động trong nhận thức.

Sự dè dặt không đồng nghĩa với bất lực ​

Một người nghe tiếng động lạ trong chiếc xe có thể chưa biết bộ phận nào gặp trục trặc. Thừa nhận “Tôi chưa biết” là phù hợp với lượng thông tin đang có. Người thợ có thể kiểm tra từng bộ phận, so sánh dấu hiệu và thử lại sau khi sửa. Giới hạn ban đầu được vượt qua nhờ thêm phương tiện và hoạt động tìm hiểu.

Nhưng từ “Chưa xác định được nguyên nhân” đến “Con người không bao giờ biết được nguyên nhân thực sự” là một bước chuyển khác hẳn. Nhận định sau không chỉ nói về tình trạng hiện tại. Nó đặt một giới hạn về nguyên tắc đối với khả năng nhận thức. Chính cấp độ khẳng định này cần được nhận ra khi phân biệt giới hạn lịch sử của tri thức với lập trường bất khả tri.

Mặt khác, tin rằng có thể nhận thức cũng không cho phép đoán nguyên nhân rồi gọi đó là hiểu biết. Người thợ vẫn cần dấu hiệu, thao tác kiểm tra và kết quả thực tế. Khả tri là sự khẳng định khả năng đi sâu vào đối tượng, chứ không phải đặc quyền miễn chứng cứ cho bất kỳ lời giải thích nào.

Trong đời sống, giữ được sự tin tưởng vào khả năng hiểu biết và thái độ khiêm tốn trước điều chưa biết có mâu thuẫn không? Hay chính sự thừa nhận giới hạn hiện tại mới cho ta lý do tiếp tục tìm hiểu?

Phân biệt lập trường nền tảng với một nhận định cụ thể ​

Câu nói rằng một kế hoạch tốt có thể thay đổi cuộc sống không tự nó là duy tâm. Kế hoạch có thể hướng dẫn con người sử dụng phương tiện, phối hợp hành động và cải biến điều kiện. Điều cần xét là người nói có thừa nhận những điều kiện vật chất và hoạt động thực tiễn làm trung gian hay không.

Tương tự, nói rằng hoàn cảnh ảnh hưởng tư tưởng chưa đủ để diễn đạt đầy đủ lập trường duy vật. Vấn đề cơ bản còn đòi xác định cái gì có trước và giữ vai trò quyết định xét về nền tảng. Một ảnh hưởng qua lại trong trường hợp riêng cần được đặt trong quan hệ rộng hơn giữa thế giới khách quan với đời sống ý thức.

Sự phân biệt này cũng áp dụng cho khả tri. Thừa nhận một sự kiện chưa được giải thích không đồng nghĩa chấp nhận bất khả tri. Một ngành khoa học có thể chưa có phương tiện phù hợp hoặc chưa xây dựng được lý thuyết cần thiết. Giới hạn lịch sử của hiểu biết không tự chứng minh rằng bản chất đối tượng vĩnh viễn nằm ngoài khả năng nhận thức.

Trong cách hiểu về Cantơ, ranh giới quan trọng là giữa hiện tượng con người có thể biết và vật tự nó không thể được nhận thức như nó vốn có. Khi trình bày lập trường bất khả tri, cần giữ ranh giới này. Nếu viết thành không ai biết được bất cứ điều gì, ta đã biến một quan điểm có nội dung xác định thành sự phủ nhận quá rộng.

Quan điểm duy vật biện chứng đặt vấn đề khác. Con người có thể từng bước đi sâu vào đối tượng nhờ hoạt động, phương tiện và việc sửa chữa tri thức. Khả năng ấy được hiểu như quá trình xã hội lâu dài, không phải lời bảo đảm rằng một người có thể lập tức giải đáp mọi câu hỏi.

Hai mặt của vấn đề cơ bản vì thế cần được theo dõi riêng nhưng trong liên hệ. Mặt thứ nhất làm rõ cơ sở tồn tại và quan hệ quyết định. Mặt thứ hai làm rõ khả năng của nhận thức. Nhận ra cả hai giúp đọc một lập luận triết học chính xác hơn việc phân loại theo những từ quen tai như tinh thần, khách quan hoặc niềm tin.

Tài liệu tham khảo ​

  1. Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 1, tr. 5–60.
  2. Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 1, phần Bài tập.
  3. Raphael. Platon và Arixtốt ở trung tâm bức Trường học Athens.. Phạm vi công cộng. Bản thu nhỏ.

Cập nhật lần cuối:

Ảnh & sơ đồ
100%
Ảnh tài liệu được phóng to