Giao diện
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu điều gì
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến của vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó thống nhất cách giải thích duy vật về thế giới với phương pháp xem xét sự vật trong liên hệ và biến đổi. Những nguyên lý, phạm trù và quy luật của nó cung cấp định hướng phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động.
Cần phân biệt biện chứng khách quan với biện chứng chủ quan. Biện chứng khách quan là những mối liên hệ, quá trình vận động và phát triển vốn có của hiện thực. Biện chứng chủ quan là sự phản ánh các quan hệ ấy trong tư duy và quá trình nhận thức của con người. Tư duy phải tìm cách phản ánh đúng đối tượng, nhưng không tự động trùng khít với đối tượng. Hai nguyên lý sau là nền tảng để triển khai cách xem xét ấy.
Nhìn sự vật trong những quan hệ làm nên nó
Một kết quả học tập không chỉ phản ánh thời gian ngồi học. Nó còn liên quan nền tảng kiến thức, cách học, điều kiện sinh hoạt và yêu cầu đánh giá. Nếu tách kết quả khỏi những quan hệ ấy, ta có thể nhận diện một hiện tượng nhưng chưa hiểu vì sao nó hình thành. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đặt cơ sở cho cách xem xét rộng hơn.
Mối liên hệ chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hoặc giữa những mặt của một sự vật. Một yếu tố được nhận biết đầy đủ hơn khi ta hiểu nó có vị trí gì, phụ thuộc điều kiện nào và tác động trở lại những yếu tố khác ra sao.
Khẳng định tính phổ biến của mối liên hệ không đồng nghĩa với việc mọi cặp sự vật đều trực tiếp tác động nhau mạnh như nhau. Quan hệ có thể qua nhiều khâu trung gian, có mức độ và phạm vi khác nhau. Một sự giống nhau hoặc sự xuất hiện đồng thời cũng chưa đủ chứng minh giữa chúng có quan hệ nhân quả.

Khi quan sát bông hoa, ta có thể dễ bỏ qua con ong nhỏ bên cạnh. Nhưng sự di chuyển của côn trùng góp phần vào quá trình thụ phấn, qua đó nối hoạt động kiếm ăn với sự sinh sản của thực vật. Một quan hệ có ý nghĩa không nhất thiết là quan hệ dễ nhìn thấy nhất. Mặt khác, tác dụng của nó còn tùy loài cây và điều kiện sinh thái cụ thể.
Ba tính chất của mối liên hệ
Mối liên hệ có tính khách quan vì nó thuộc bản thân hiện thực, không do ta tùy ý đặt ra. Cách con người gọi tên và giải thích quan hệ có thể thay đổi, nhưng sự phụ thuộc thực của cây vào điều kiện sống không vì thế mà mất đi.
Mối liên hệ có tính phổ biến vì không sự vật nào tồn tại hoàn toàn biệt lập. Bên trong một đối tượng có các bộ phận và quá trình tác động nhau. Đối tượng ấy đồng thời nằm trong môi trường rộng hơn. Một cơ thể sống vừa có sự phối hợp giữa các cơ quan vừa trao đổi vật chất với môi trường.
Mối liên hệ còn đa dạng về hình thức và vai trò. Có quan hệ bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu. Sự phân biệt phải dựa vào đối tượng, giai đoạn và vấn đề đang nghiên cứu. Một quan hệ giữ vai trò phụ trong tình huống này có thể trở thành quan hệ chi phối trong tình huống khác.
Quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử, cụ thể
Từ nguyên lý trên, quan điểm toàn diện yêu cầu xem xét những mặt và quan hệ cần thiết để hiểu đối tượng như một chỉnh thể. Toàn diện không phải cố liệt kê mọi thứ rồi xem tất cả ngang nhau. Sau khi xác định các quan hệ, phải phân tích vai trò và tìm ra những quan hệ cơ bản, chủ yếu.
Khi đánh giá một phương án giao thông, chỉ chú ý tốc độ di chuyển có thể bỏ qua độ an toàn, chi phí, khả năng tiếp cận và tác động môi trường. Nhưng chỉ cộng một danh sách tiêu chí cũng chưa đủ. Cần biết tiêu chí nào quyết định trong điều kiện cụ thể và sự thay đổi ở một tiêu chí ảnh hưởng các tiêu chí còn lại ra sao.
Quan điểm toàn diện chống sự phiến diện, đồng thời chống việc gom các yếu tố rời rạc thành một tập hợp thiếu thứ bậc. Nó cũng không cho phép tùy tiện đổi tiêu chí để bênh vực kết luận đã có sẵn. Kết luận phải hình thành từ việc khảo sát quan hệ thực của đối tượng.
Nguyên tắc lịch sử, cụ thể yêu cầu đặt đối tượng trong hoàn cảnh không gian, thời gian và quá trình hình thành của nó. Cùng một cách tổ chức có thể phù hợp ở giai đoạn này nhưng kém hiệu quả khi quy mô và điều kiện đã thay đổi. Muốn vận dụng kinh nghiệm, phải tìm ra điều kiện khiến kinh nghiệm ấy thành công, rồi đối chiếu với tình huống mới.
Phân biệt xem xét toàn diện với chiết trung và ngụy biện
Một cách giải thích có thể nhắc đến rất nhiều yếu tố mà vẫn chưa toàn diện. Nếu các yếu tố được đặt cạnh nhau mà không xác định vai trò, kết luận sẽ thiếu cơ sở lựa chọn. Phương pháp chiết trung thể hiện ở việc ghép những quan điểm hoặc mặt khác nhau mà không giải quyết quan hệ thực giữa chúng.
Chẳng hạn, khi đánh giá một tổ chức, có thể kể nhân lực, cơ sở vật chất, mục tiêu và cách quản lý. Nhưng danh sách ấy chưa cho biết khó khăn chủ yếu nằm ở đâu. Cần phân tích yếu tố nào đang quy định các yếu tố khác, quan hệ nào làm công việc đình trệ và điều kiện nào có thể thay đổi.
Ngụy biện còn có thể xuất hiện khi tùy tiện đổi vị trí giữa mặt chủ yếu và thứ yếu để bảo vệ kết luận có sẵn. Một thành tích phụ được đưa ra để lảng tránh hạn chế liên quan trực tiếp đến mục tiêu. Hoặc một khuyết điểm riêng bị dùng để phủ nhận mọi kết quả mà không xem phạm vi tác động của nó.
Để tránh hai cách làm ấy, cần giữ rõ đối tượng và nhiệm vụ đang xét. Khi nhiệm vụ thay đổi, tiêu chí có thể cần thay đổi, nhưng sự thay đổi phải được giải thích. Nếu đánh giá hiệu quả học tập, không thể chỉ lấy quy mô trang thiết bị làm kết luận về năng lực người học. Thiết bị là điều kiện, chưa phải toàn bộ kết quả.
Quan điểm toàn diện vì thế đòi hỏi cả sự bao quát lẫn phân biệt. Bao quát để không bỏ mất những quan hệ cần thiết. Phân biệt để tìm đúng vai trò của chúng trong hoàn cảnh cụ thể. Hai yêu cầu giúp người nghiên cứu đi từ danh sách thông tin đến một sự giải thích có thứ bậc và trọng tâm.
Một buổi đi học muộn
Giả sử một người đến lớp muộn sau khi xe buýt đổi hành trình. Có thể kết luận ngay họ thiếu trách nhiệm, nhưng cũng có thể đi sang thái cực khác là kể mọi yếu tố từ thời tiết đến giao thông rồi coi việc tìm nguyên nhân là bất khả. Cả hai cách đều chưa làm rõ quan hệ thực sự chi phối tình huống.
Xem xét toàn diện đòi hỏi biết người ấy nhận thông tin vào lúc nào, đã dự kiến hành trình ra sao và sự thay đổi tác động đến quãng đường thế nào. Những yếu tố ấy không có vai trò ngang nhau. Nếu việc đổi tuyến đã được thông báo và có lựa chọn thay thế, nhận xét sẽ khác với trường hợp thông báo chỉ xuất hiện khi người ấy đã lên xe.
Nhìn hoàn cảnh không có nghĩa xóa trách nhiệm. Nó giúp đặt trách nhiệm đúng vào phần việc mà chủ thể có thể biết và có thể làm. Ngược lại, đòi trách nhiệm mà không xem điều kiện cũng có thể chỉ là lấy điều mình biết sau sự việc để áp ngược cho người đang ở trong tình huống.
Từ một lần đến muộn, ta biết được điều gì về một người và còn chưa biết điều gì? Giữ lại khoảng chưa biết ấy không phải né tránh đánh giá. Nó ngăn một biểu hiện riêng lẻ bị kéo thành lời phán quyết về toàn bộ con người.
Phát triển khác với biến đổi nói chung
Vận động bao gồm mọi biến đổi, còn phát triển chỉ quá trình vận động theo khuynh hướng từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Vì thế, tăng số lượng, thay đổi vị trí hoặc lặp lại trạng thái cũ chưa tự nó chứng tỏ có phát triển.
Một cơ sở đào tạo có thêm phòng học là có sự thay đổi về điều kiện vật chất. Để kết luận chất lượng đào tạo phát triển, còn phải xem năng lực tổ chức và kết quả học tập có được nâng lên hay không. Chỉ số tăng lên cần được đặt trong quan hệ với chức năng và chất lượng của đối tượng.
Phát triển có tính khách quan vì nguồn gốc của nó nằm trong những quan hệ và mâu thuẫn của sự vật. Mong muốn của con người có thể tham gia quá trình xã hội, nhưng không tự tạo ra mọi điều kiện phát triển. Phát triển có tính phổ biến, đồng thời có tính đa dạng vì các lĩnh vực và sự vật có nhịp độ, hình thức, con đường khác nhau.
Quá trình ấy còn có tính kế thừa. Cái mới không xuất hiện từ khoảng trống mà hình thành trên cơ sở cải biến cái cũ, giữ lại những yếu tố còn phù hợp. Điều này sẽ được làm rõ hơn trong quy luật phủ định của phủ định.
Nhận diện cái mới bằng cơ sở và năng lực thực hiện chức năng
Cái mới trong nghĩa phát triển cần được nhận diện qua chất và triển vọng hiện thực, không chỉ qua thời điểm xuất hiện. Một cách tổ chức được đặt tên mới có thể vẫn giữ những quan hệ cũ đang cản trở hoạt động. Ngược lại, một yếu tố có từ trước có thể được cải biến và tham gia vào cấu trúc mới có giá trị.
Muốn đánh giá, cần xác định sự vật đang thực hiện chức năng gì và gặp những mâu thuẫn nào. Một thay đổi có thể giúp khắc phục hạn chế cũ, mở rộng khả năng hoạt động hoặc tạo điều kiện phát triển tiếp. Những dấu hiệu ấy cần được khảo sát trong quan hệ với nguồn lực, phương tiện và kết quả thực tế.
Chẳng hạn, chuyển một hoạt động từ giấy sang thiết bị số có thể chỉ thay phương tiện ghi chép. Nếu cách trao đổi và xử lý công việc vẫn không thay đổi, chưa đủ căn cứ để kết luận toàn bộ tổ chức đã phát triển về chất. Việc đánh giá cần đi sâu vào quan hệ hoạt động và những năng lực thực sự được hình thành.
Cái mới có triển vọng cũng không nhất thiết đã mạnh ngay từ đầu. Nó có thể thiếu điều kiện, còn yếu về tổ chức hoặc gặp sự cản trở từ những quan hệ đang tồn tại. Hỗ trợ cái mới cần đồng thời nhận ra hạn chế hiện tại và tìm những điều kiện có thể giúp nó trưởng thành.
Nhưng khó khăn không phải bằng chứng tự động về triển vọng. Một cách làm thất bại có thể do điều kiện chưa đủ, cũng có thể do bản thân nó không phù hợp. Quan điểm phát triển đòi hỏi phân tích nguyên nhân, thay vì coi mọi thất bại là bước lùi cần thiết của tiến bộ.
Khi gắn cái mới với lịch sử cụ thể, ta có thể phân biệt sự bảo thủ với việc thận trọng có căn cứ. Thận trọng khảo sát điều kiện để thay đổi thành công. Bảo thủ giữ nguyên cách cũ dù những giới hạn của nó và khả năng thay thế đã được xác định. Sự phân biệt nằm ở nội dung phân tích và hành động.
Sắp xếp lại một căn phòng đang ở
Một căn phòng có thêm nhiều đồ mới chưa chắc đã trở nên phù hợp hơn với người ở. Nếu chỗ đi lại bị chặn, ánh sáng bị che và việc sinh hoạt khó hơn thì sự tăng thêm ấy là biến đổi, nhưng chưa đủ căn cứ gọi là phát triển xét theo chức năng của căn phòng.
Ngược lại, bỏ bớt đồ hoặc đổi cách bố trí có thể tạo ra một không gian sống thuận tiện hơn. Sự phát triển ở đây cần được đánh giá bằng những quan hệ và năng lực mới của chỉnh thể, thay vì chỉ dựa vào số lượng hoặc vẻ ngoài mới lạ. Cái xuất hiện muộn hơn không tự động có giá trị cao hơn.
Trong quá trình sửa, căn phòng có lúc bừa bộn hơn trước. Một thời điểm bất tiện chưa đủ để kết luận toàn bộ việc sửa là thoái bộ. Nhưng cũng không thể dùng lời hứa về tương lai để biện hộ cho mọi thiệt hại hiện tại. Cần có những thay đổi và điều kiện cụ thể cho thấy kết quả dự kiến có khả năng hình thành.
Ví dụ làm rõ cách nhận diện khuynh hướng qua một quá trình, không phải tiêu chuẩn chung đo sự phát triển của mọi xã hội hoặc mọi con người. Đối tượng khác nhau có cấu trúc và chức năng khác nhau. Chính yêu cầu tìm tiêu chuẩn thích hợp mới giữ cho quan điểm phát triển khỏi trở thành một lời khen có thể gắn vào bất kỳ sự đổi mới nào.
Nhận ra khuynh hướng qua một quá trình phức tạp
Khuynh hướng đi lên không có nghĩa mọi bước đều tiến thẳng. Phát triển có thể bao gồm quanh co, gián đoạn, thậm chí những bước lùi cục bộ. Vì vậy, một thời điểm bất lợi chưa đủ phủ nhận cả quá trình. Ngược lại, một thành công ngắn hạn cũng chưa chứng minh xu hướng phát triển bền vững.
Quan điểm phát triển yêu cầu xem đối tượng trong quá trình hình thành, biến đổi và khả năng tiếp tục biến đổi. Khi cái mới xuất hiện, cần tìm cơ sở thực khiến nó có triển vọng thay vì chỉ dựa vào sự mới lạ. Cái xuất hiện sau về thời gian chưa chắc tiến bộ hơn cái xuất hiện trước.
Hai nguyên lý hỗ trợ nhau. Mối liên hệ giúp giải thích điều kiện và nguồn gốc của biến đổi. Phát triển giúp ta không đóng băng các quan hệ vào một ảnh chụp hiện tại. Khi kết hợp chúng, việc nhận thức chuyển từ mô tả các mặt rời rạc sang giải thích một đối tượng đang vận động trong hoàn cảnh cụ thể.
Để phân tích các quan hệ ấy rõ hơn, phép biện chứng sử dụng những cặp phạm trù như nguyên nhân, kết quả hoặc bản chất, hiện tượng. Chúng giúp biến yêu cầu xem xét toàn diện thành những hướng tìm hiểu có nội dung xác định.
Tài liệu tham khảo
- Hội đồng biên soạn, Phạm Văn Đức (chủ biên, 2019). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Dành cho bậc đại học, khối các ngành ngoài lý luận chính trị. Hà Nội. Chương 2, tr. 61–143.
- Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2024). Bài tập Triết học Mác - Lênin. Hà Nội. Chương 2, phần Bài tập.
- Kapteinkos. Ong đang kiếm ăn trên một bông hoa.. CC BY-SA 4.0. Bản thu nhỏ.